7 bài thuyết minh về tác giả Nguyễn Du siêu hay

7 bài thuyết minh về tác giả Nguyễn Du siêu hay

Thuyết minh về Nguyễn Du là một trong những dạng đề thường gặp trong chương trình Ngữ Văn lớp 9. Trong bài viết này Hoatieu xin chia sẻ đến các bạn các bài văn mẫu thuyết minh về tác giả Nguyễn Du, thuyết minh về Nguyễn Du & Truyện Kiều hay nhất để các bạn có thêm ebook ôn tập có lợi.

1. Dàn ý Thuyết minh về Nguyễn Du

Mở bài:

Nguyễn Du là một nhà thơ, nhà văn hóa kiệt xuất của dân tộc, Danh nhân văn hóa toàn cầu. Ông để lại cho đời nhiều tác phẩm bất hủ, trong đó nổi vị trí thứ nhất là Truyện Kiều – một bộ đại thành kinh điển của nền văn học VN từ cổ chí kim. Có thể nói tên tuổi & thành tích văn học của Nguyễn Du rợp bóng cả thế kỉ XVIII.

Thân bài:

Nguyễn Du (1765 – 1820), tên chữ Tố Như, hiệu Thanh Hiên, quê tỉnh Hà Tĩnh. Ông sinh trưởng trong nhà đại quý tộc có truyền thống khoa bảng, nhiều đời làm quan lớn & là dòng họ có truyền thống ý tưởng văn nghệ. Bối cảnh gia đình tác động sâu sắc đến cuộc sống Nguyễn Du, tài năng văn học của ông chính vì vậy có điều kiện nảy nở & tiến triển sớm.

Tuổi thơ Nguyễn Du hạnh phúc trong giàu sang phú quý. Cha ông là tể tướng trong triều, các anh cũng làm quan to cấp thượng công, gia đình tột độ giàu sang. Lúc nhỏ, Nguyễn Du thường theo cha & anh vào chơi & học hành cùng các công nương quý tử trong triều nên sớm có được tri thức cao đẹp.

Thế nhưng, thời hoàng kim ấy tồn tại không được bao lâu. Loạn lạc xảy ra, gia đình ly tán, Nguyễn Du sớm phải gánh chịu nhiều mất mát.

Lên 11 tuổi, Nguyễn Du mất cha. Hai năm sau, mẹ ông cũng tạ thế. Từ đó, Nguyễn Du lưu lạc khắp mọi nơi trong dương thế. Lúc thì theo anh Nguyễn Khản, lúc về quê mẹ, lúc tại về thành Thăng Long. Cuộc sống gian truân, lận đận, phải gánh chịu không biết bao nhiêu cực khổ. Khi trào lưu Tây Sơn thất bại, nhà Nguyễn phục hưng, Nguyễn Du có ra làm quan nhưng không mấy hài lòng. Những xung đột trong quan niệm khiến ông có nhiều tranh chấp với thời cuộc.

Nguyễn Du là người có hiểu biết sâu rộng, vốn sống vô cùng đa dạng, thông thuộc kinh sách cổ kim, tầm chương trích cú cũng vô cùng xuất sắc. Ông đã từng sống nhiều năm lưu lạc tiếp xúc với nhiều cảnh đời & thân phận nhân loại trong niên đại loạn lạc, dâu bể. Khi làm quan bất đắc dĩ dưới triều Nguyễn, ông đã từng đi sứ sang Trung Quốc, qua nhiều mảnh đất mênh mông, tiếp xúc với nền văn hóa đặc sắc ở Trung Hoa. Toàn bộ những điều đó đã tác động lớn đến sáng tác của Nguyễn Du. Ông là người có một con tim giàu ái tình thương, tấm chân tình trắc ẩn, suy tư trước vận mệnh nhân loại trước niên đại.

Sống trong niên đại với nhiều biến động dữ dội, cộng với tấm chân tình thương người vô hạn làm cho cuộc sống Nguyễn Du quay cuồng như một cơn lốc tố. Ông vừa mong muốn tận trung với triều đình theo lí tưởng nho gia, vừa hướng về những định mệnh đau thương, xấu số; vừa mong muốn bảo vệ quyền lực phong kiến lại vừa mong muốn thực thi công lí ở đời. Thế nhưng, lí tưởng khi nào cũng tranh chấp với thực tại, nhiều lúc ông rơi vào bế tắc khốn cùng. Quan trường so với ông là một chốn ô nhục, với quá nhiều điều trái tai ngứa mắt thật đáng ghét bỉ. Việc ra làm quan so với ông là một việc bất đắc dĩ phải làm. Bởi vậy, nhiều lần ông cáo lão về quê, được ân chuẩn rồi lại bị triệu hồi. Tuy được nhà vua trọng dụng, giao cho nhiều trọng trách, song ông không lấy làm vui vẻ. Ông dự tính, sau chuyến du ngoạn xứ Trung Quốc lần 2, ông sẽ xin từ quan, tránh mọi phiền toái. Thật không may, ông đã mất trước chuyến du ngoạn, tại đế cung Huế, hưởng thọ 55 tuổi.

* Sự nghiệp văn học:

Nguyễn Du đã để lại cho hậu thế nhiều tác phẩm văn chương bất hủ bao gồm cả chữ Hán & chữ Nôm. Ở ngành nghề nào, Nguyễn Du cũng đạt nhiều thành tích xuất sắc.

Sáng tác chữ Hán, bao gồm:

– Thanh Hiên thi tập (gồm 78 bài), viết cốt yếu trong những năm tháng trước khi làm quan nhà Nguyễn.

– Nam trung tạp ngâm (gồm 40 bài thơ), làm từ năm 1805 đến cuối năm 1812, ông viết khi làm quan ở Huế, Quảng Bình & những bản địa ở hướng nam Hà Tĩnh.

– Bắc hành tạp lục (Ghi chép trong chuyến du ngoạn sang phương Bắc, gồm 131 bài thơ), viết trong chuyến du ngoạn sứ sang Trung Quốc.

Sáng tác chữ Nôm, gồm có:

– Đoạn trường tân thanh (Tiếng kêu mới về nỗi đau đứt ruột), tức Truyện Kiều, gồm 3254 câu thơ theo thể lục bát.

– Văn chiêu hồn (nguyên có tên là Văn tế thập loại chúng sinh, nghĩa là Văn tế mười loại người), là một ngâm khúc gồm 184 câu viết theo thể song thất lục bát.

– Thác lời trai phường nón (gồm 48 câu), cũng được viết bằng thể lục bát, bài viết thay lời người con trai phường nón làm thơ tỏ tình với cô gái phường vải.

– Văn tế sống Trường Lưu nhị nữ () gồm 98 câu, viết theo lối văn tế…

* Nhận xét:

Nguyễn Du nổi bậc giữa khung trời văn chương như một người nổi tiếng đặc sắc với ánh sáng lạ thường. Có thể nói, ông đã mang đến cho nền văn học thế kỉ 18 & nền văn học dân tộc những tiếng nói thấm đẫm tình người, được bao trùm trong cách thức văn nghệ đẹp tuyệt chưa từng có.

Xét về bài viết, nét nổi bậc trong sáng tác Nguyễn Du chính là sự ca tụng cảm xúc, dạt dào tình người. Nét nổi vị trí thứ nhất là sự thông cảm sâu sắc của tác giả so với cuộc đời & nhân loại, nhất là những nhân loại nhỏ tuổi, xấu số. Ông chăm chú trổ tài sự trân trọng & ca tụng nhân loại trong chính cuộc đời của họ. Cái nhìn nhân đạo này khiến ông được nhìn nhận là một nhà nhân đạo xuất sắc của thế kỉ 18, 19 & nền văn học dân tộc.

Về mặt văn nghệ, Nguyễn Du tỏ ra uyên thâm & thâm thúy cả những chuyên mục thơ cổ Trung Quốc lẫn thơ dân tộc. Ở chuyên mục nào ông cũng tỏ ra xuất sắc, thông thạo tuyệt vời. Thơ Nguyễn Du luôn nhịp nhàng tiếng động, bừng lên sắc màu của sự sống, hằn lên những đường nét sắc cạnh của bức họa hiện thực phong phú. & trong bừa bộn tiếng động, sắc màu, đường nét vô cùng đa dạng ấy, Nguyễn Du xuất hiện vừa dạt dào yêu thương, vừa trầm tư, nghiêm khắc. Này là do bản lĩnh của một đại Nho, luôn hết lòng vì nhân loại, làm cho tác phẩm của ông có sức sống diệu kì trong con tim nhân loại.

Với những đóng góp trên Nguyễn Du xứng đáng là Đại Thi Hào của dân tộc. Sáng tác của Nguyễn Du không thật khổng lồ về khối lượng, nhưng có địa điểm vô cùng quan trọng trong di sản văn học & văn hóa dân tộc. Từ Truyện Kiều đã nảy sinh biết bao những cách thức ý tưởng văn học & văn hóa khác nhau: Thơ ca về Kiều, các phóng tác Truyện Kiều bằng văn học, sân khấu, điện ảnh; rồi không ít những dạng thức của văn nghệ dân gian: Đố Kiều, giảng Kiều, lẩy Kiều, bói Kiều… Nhất là số lượng rất lớn những bài comment, những công trình phê bình, phân tích.

Truyện Kiều & sự nghiệp văn học đã tốn không ít giấy mực của các nhà phân tích & phê bình xưa & nay. Nguyễn Du Mộng Liên Đường Chủ Nhân khi đọc truyện Kiều đã từng đánh giá: “Ta nhân lúc đọc hết cả một lượt, mới lấy làm lạ rằng: Tố Như tử dụng tâm đã khổ, tự sự đã khéo, tả cảnh đã hệt, đàm tình đã thiết, nếu không phải có con mắt trông thấu cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời, thì tài nào có cái bút lực ấy…”

Học giả Phạm Quỳnh cũng từng nhận xét rất cao Truyện Kiều: “Truyện Kiều còn thì tiếng ta còn”.

Truyện Kiều được coi là kiệt tác có giá trị & tầm ảnh hường lớn nhất của nền văn học VN từ xưa đến nay. Truyện Kiều đã được dịch ra hơn 20 ngôn từ khác nhau với rất là nhiều bản dịch, càng cam đoan mạnh khỏe địa điểm của Nguyễn Du trong lòng đọc giả trên toàn cầu.

Để tôn vinh & hồi tưởng Nguyễn Du, ngày 25/10/2013, hội đồng Tổ chức Dạy bảo Khoa học & Văn hóa Liên minh quốc đã chính thức sướng tên Đại thi hào Nguyễn Du cùng với 107 danh nhân văn hóa trên toàn cầu.

2. Dàn ý thuyết minh về tác giả Nguyễn Du & tác phẩm Truyện Kiều

I. Mở bài

– Giới thiệu tác giả Nguyễn Du: là đại thi hào dân tộc, là danh nhân văn hóa toàn cầu.

– Giới thiệu về “Truyện Kiều”: là kiệt tác của Nguyễn Du, là tác phẩm kinh điển của văn học VN & được dịch ra nhiều thứ tiếng trên toàn cầu.

II. Thân bài

1. Giới thiệu về tác gia Nguyễn Du:

– Cuộc sống:

+ Tên, hiệu, năm sinh năm mất: tên chữ là Tố Như, biệt danh là Thanh Hiên, sinh năm Ất Dậu (1765), mất năm Canh Thìn (1820).

+ Quê hương: quê cha ở Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; quê mẹ ở Bắc Ninh, nhưng ông lại được ra đời ở Thăng Long. Nhờ đó, Nguyễn Du đơn giản tiếp thụ tinh hoa của nhiều nền văn hóa.

+ Gia đình: đại quý tộc, nhiều đời làm quan to, có truyền thống làm thơ văn & say mê ca kỹ.

+ Niên đại: ra đời & lớn lên trong giai đoạn lịch sử đầy biến động dữ dội của xã hội phong kiến.

+ Cuộc sống: đầy bi kịch, Nguyễn Du sớm mồ côi cả cha lẫn mẹ, phải ở với anh trai là Nguyễn Khản. Gia đình tan tác, bản thân ông cũng từng từng lưu lạc “mười năm gió bụi” ở quê vợ Thái Bình. Nhưng chính những cùng cực, vất vả đó đã nung đúc cho ông vốn sống quý hiếm, & sự hiểu rõ sâu sắc vốn văn hóa dân gian.

+ Nguyễn Du làm quan dưới hai triều Lê & Nguyễn. Ông là vị quan thanh liêm, được nhân dân tin yêu, quý trọng.

– Sự nghiệp văn học khổng lồ với những kiệt tác ở nhiều chuyên mục:

+ Các tác phẩm văn học của Nguyễn Du: thơ chữ Hán, Nguyễn Du có 3 tập thơ (Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục). Thơ chữ Nôm, Nguyễn Du có hai kiệt tác “Truyện Kiều” & “Văn tế thập loại chúng sinh”.

+ Bài viết:Thơ văn Nguyễn Du có giá trị hiện thực sâu sắc, phản ánh chân thật cuộc sống cùng cực của ông nói riêng, & xã hội ám muội, bất công nói chung.

+ Tác phẩm của Nguyễn Du chan chứa trí não nhân đạo – một chủ nghĩa nhân đạo thống thiết, luôn hướng đến thấu hiểu, bênh vực, ca tụng & đòi quyền sống cho nhân loại, nhất là người phụ nữ tài hoa mà bạc phận.

+ Văn nghệ:Về chuyên mục: Nguyễn Du đã mang hai thể thơ của truyền thống dân tộc đạt đến trình độ thành thạo & mẫu mực cổ kính. Nguyễn Du đã tiểu thuyết hóa chuyên mục truyện Nôm, với điểm nhìn trần thuật từ bên trong nhân vật, & văn nghệ diễn tả tâm lí tinh tế, sâu sắc.

+ Về ngôn từ: Nguyễn Du đã có đóng góp lớn lao, khiến cho ngôn từ Tiếng Việt trở nên trong sáng, tinh tế & sung túc.

+ Nguyễn Du đã có những đóng góp lớn lao, tác động công cuộc tiến triển của văn học VN.

2. Giới thiệu về “Truyện Kiều”

– Cái tên: Đoạn trường tân thanh (Tiếng kêu mới đứt ruột).

+ Dung tích: 3254 câu thơ lục bát.

+ Nguồn gốc: “Truyện Kiều” được sáng tác dựa trên cốt chuyện “Kim Vân Kiều truyện” – tiểu thuyết chương hồi của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc). Nguyễn Du đã “hoán cốt đoạt thai” tác phẩm của Thanh Tâm Tài Nhân, & đem đến cho “Truyện Kiều” những ý tưởng độc đáo cả về bài viết & văn nghệ.

+ Chuyên mục: truyện Nôm bác học.

* Tóm lược:

– Giá trị quan niệm:

+ Trổ tài khát vọng về ái tình tự do & ước mong công lí.

+ Là tiếng kêu thương đến đứt ruột cho thân phận nhân loại, nhất là người phụ nữ tài sắc trong xã hội phong kiến.

+ Là bản cáo trạng đanh thép tội ác của các thế lực ám muội trong xã hội cũ. Nguyễn Du phê phán mạnh khỏe sự “lên ngôi” của thế lực đồng tiền.

Xem Thêm  Cách jQuery thêm kiểu vào phần tử HTML và áp dụng CSS - thêm jquery thuộc tính style

+ Là bức chân dung trí não tự họa của Nguyễn Du, với “con người mắt trông thấu cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời”, con tim chứa chan ái tình thương nhân loại.

– Giá trị văn nghệ:

+ Văn nghệ xây dựng nhân vật

+ Văn nghệ tự sự độc đáo

+ Chuyên mục

+ Ngôn từ trong sáng, thành thạo, giàu sức gợi tả gợi cảm; ẩn dụ, điển cố,…

+ Giọng điệu thương cả rất phù phù hợp với chủ nghĩa nhân đạo thống thiết của Nguyễn Du.

III. Kết bài

Cam đoan tấm chân tình tài năng của Nguyễn Du & sức sống bất tử của “Truyện Kiều”

3. Thuyết minh về tác giả Nguyễn Du mẫu 1

Nguyễn Du sinh ngày 23 tháng 11 năm Ất Dậu, tức ngày 3/1/1766 ở đế cung Thăng Long trong một gia đình quý tộc lớn. Thân sinh ông là Hoàng Giáp Nguyễn Nghiễm (1708 – 1775), làm quan đến tham tụng (tể tướng) tước Xuân quận công triều Lê. Mẹ ông là bà Trần Thị Tần, quê Kinh Bắc, đẹp nổi tiếng. 13 tuổi lại mồ côi mẹ, ông phải ở với người anh là Nguyễn Khản. Đời sống của người anh tài hoa phong nhã, to hơn ông 31 tuổi này rất có tác động tới nhà thơ.

Sự thăng tiến trên đường làm quan của Nguyễn Du khá thành đạt. Nhưng ông không màng chú tâm đến công danh. Con tim ông chua xót, buồn thương, căm thù trước “những điều trông thấy” khi sống lưu lạc, thân thiện với tầng lớp thường dân & ngay cả khi sống giữa quan trường. Ông dốc cả máu xương mình vào văn chương, thi ca. Thơ ông là tiếng nói trong con tim mình. Đấy là cảm tình sâu sắc của ông so với một kiếp người lầm lũi cơ hàn, là thái độ bất bình rõ ràng và cụ thể của ông so với các định mệnh nhân loại. Xuất thân trong nhà quý tộc, sống trong không khí văn chương bác học, nhưng ông có cách nói riêng, dân dã, giản dị, dễ hiểu, thấm đượm chất dân ca xứ Nghệ.

Về văn thơ nôm, các sáng tác của ông có thể chia thành 3 công đoạn. Thời gian sống ở Tiên Điền – Nghi Xuân đến 1802, ông viết “Thác lời trai phường nón Văn tế sống 2 cô gái Trường Lưu”. Đây là 2 bản tình ca trổ tài rất rõ tâm tính của ông, sự hoà biểu tâm hồn tác giả với thiên nhiên, với nhân loại. Ba tập thơ chữ Hán thì “Thanh hiên thi tập” gồm 78 bài, viết lúc ở Quỳnh Côi & những năm mới về Tiên Điền, là lời trằn trọc chốn long đong, là tâm sự, là thái độ của nhà thơ trước cảnh đời loạn lạc. Sau 1809, những sáng tác thơ của ông tập hợp trong tập “Nam Trung Tạp Ngâm” gồm 40 bài đầy cảm xúc, của tâm sự, nỗi niềm u uất.

Truyện Kiều được Nguyễn Du dịch chuyển, ý tưởng từ cuốn tiểu thuyết “Truyện Kim Vân Kiều” của Thanh Tâm Tài Nhân, tên thật là Tử Văn Trường, quê ở huyện Sơn Am, tỉnh Triết Giang, Trung Quốc. Truyện Kiều đã được nhân dân ta đón nhận một cách say sưa, có nhiều lúc đã trở thành vấn đề xã hội, tiêu biểu là cuộc tranh luận xung quanh luận đề “Chánh học và tà thuyết” giữa cụ Nghè Ngô Đức Kế và ông Phạm Quỳnh thu hút rất nhiều người của 2 phía cùng luận chiến. Không chỉ ảnh hưởng sâu sắc trong tầng lớp thị dân, Truyện Kiều còn được tầng lớp trên say mê đọc, luận. Vua Minh Mạng là người đầu tiên đứng ra chủ trì mở văn đàn ngâm vịnh truyện Kiều và sai các quan ở Hàn Lâm Viện chép lại cho đời sau. Đến đời Tự Đức, nhà vua thường triệu tập các vị khoa bảng trong triều đến viết và vịnh Truyện Kiều ở văn đàn, ở Khu Văn Lâu.

Ngày nay, Truyện Kiều vẫn đang được các nhà xuất bản in với số lượng lớn, được dịch ra rất nhiều thứ tiếng. Các nhà nghiên cứu trên thế giới đánh giá cao Truyện Kiều. Dịch giả người Pháp Rơ-Ne-Crir-Sắc khi dịch Truyện Kiều đã viết bài nghiên cứu dài 96 trang, có đoạn viết: “Kiệt tác của Nguyễn Du có thể so sánh một cách xứng đáng với kiệt tác của bất kỳ quốc gia nào, thời đại nào”. Ông so sánh với văn học Pháp: “Trong toàn bộ các nền văn chương Pháp không một tác phẩm nào được phổ thông, được toàn dân sùng kính & yêu chuộng bằng quyển truyện này ở VN”. Và ông kết luận: “Sung sướng thay bậc thi sĩ với một tác phẩm có 1 0 2 đã làm rung động & ca vang toàn bộ tâm hồn của một dân tộc”. Năm 1965 được Hội đồng Hoà bình thế giới chọn làm năm kỷ niệm 200 năm năm sinh Nguyễn Du.

Nguyễn Du là nhà thơ sống hết mình, tư tưởng, tình cảm, tài năng nghệ thuật của ông xuyên suốt các tác phẩm của ông, xuyên suốt cuộc đời ông và thể hiện rõ nhất qua áng văn chương tuyệt vời là Truyện Kiều. Đọc Truyện Kiều ta thấy xã hội, thấy đồng tiền và thấy một Nguyễn Du hàm ẩn trong từng chữ, từng ý. Một Nguyễn Du thâm thuý, trải đời, một Nguyễn Du chan chứa nhân ái, hiểu mình, hiểu đời, một Nguyễn Du nóng bỏng khát khao cuộc sống bình yên cho dân tộc, cho nhân dân.

4. Thuyết minh về tác giả Nguyễn Du mẫu 2

Nguyễn Du là một đại thi hào dân tộc, một danh nhân văn hóa thế giới, một nhà nhân đạo lỗi lạc có “con mắt nhìn thấu sáu cõi” và “tấm lòng nghĩ suốt ngàn đời” (Mộng Liên Đường chủ nhân).

Nguyễn Du, tên chữ là Tố Như, tên hiệu là Thanh Hiên, quê ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ông sinh năm 1765 (Ất Dậu) trong một gia đình có nhiều đời và nhiều người làm quan to dưới triều Lê, Trịnh. Cha là Nguyễn Nghiễm từng giữ chức Tể tướng 15 năm. Mẹ là Trần Thị Tần, một người phụ nữ Kinh Bắc có tài xướng ca.

Quê hương Nguyễn Du là vùng đất địa linh, nhân kiệt, hiếu học và trọng tài. Gia đình Nguyễn Du có truyền thống học vấn uyên bác, có nhiều tài năng văn học. Gia đình và quê hương chính là “mảnh đất phì nhiêu” nuôi dưỡng thiên tài Nguyễn Du.

Thời thơ ấu, Nguyễn Du sống trong nhung lụa. Lên 10 tuổi lần lượt mồ côi cả cha lẫn mẹ, cuộc đời Nguyễn Du bắt đầu gặp những sóng gió trong cơn quốc biến ba đào: Sống nhờ Nguyễn Khản (anh cùng cha khác mẹ làm Thừa tướng phủ chúa Trịnh) thì Nguyễn Khản bị giam, bị Kiêu binh phá nhà phải chạy trốn. Năm 19 tuổi, Nguyễn Du thi đỗ tam trường rồi làm một chức quan ở tận Thái Nguyên. Chẳng bao lâu nhà Lê sụp đổ (1789) Nguyễn Du lánh về quê vợ ở Thái Bình rồi vợ mất, ông lại về quê cha, có lúc lên Bắc Ninh quê mẹ, nhiều nhất là thời gian ông sống không nhà ở kinh thành Thăng Long.

Hơn mười năm chìm nổi long đong ngoài đất Bắc, Nguyễn Du sống gần gũi nhân dân và thấm thìa biết bao nỗi ấm lạnh kiếp người, đặc biệt là người dân lao động, phụ nữ, trẻ em, cầm ca, ăn mày… những con người “dưới đáy” xã hội. Chính nỗi bất hạnh lớn trong cuộc đời đã hun đúc nên thiên tài Nguyễn Du – nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn.

Miễn cưỡng trước lời mời của nhà Nguyễn, Nguyễn Du ra làm quan. Năm 1813 được thăng chức Học sĩ điện cần Chánh và được cử làm Chánh sứ đi Trung Quốc. Năm 1820, ông lại được cử đi lần thứ hai nhưng chưa kịp đi thì mất đột ngột ngày 10 tháng 8 năm Canh Thìn (18-9-1820). Suốt thời gian làm quan cho nhà Nguyễn, Nguyễn Du sống trầm lặng, ít nói, có nhiều tâm sự không biết tỏ cùng ai.

Tư tưởng Nguyễn Du khá phức tạp và có những mâu thuẫn: Trung thành với nhà Lê, không hợp tác với nhà Tây Sơn, bất đắc dĩ làm quan cho nhà Nguyễn. Ông là một người có lí tưởng, có hoài bão nhưng trước cuộc đời gió bụi lại buồn chán, Nguyễn Du coi mọi chuyện (tu Phật, tu tiên, đi câu, đi săn, hành lạc…) đều là chuyện hão nhưng lại rơi lệ đoạn trường trước những cuộc bể dâu. Nguyễn Du đã đứng giữa giông tố cuộc đời trong một giai đoạn lịch sử đầy bi kịch. Đó là bi kịch của đời ông nhưng chính điều đó lại khiến tác phẩm của ông chứa đựng chiều sâu chưa từng có trong thơ văn Việt Nam.

Nguyễn Du có ba tập thơ chữ Hán là: Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm và Bắc hành tạp lục, tổng cộng 250 bài thơ Nôm, Nguyễn Du có kiệt tác Đoạn trường tân thanh (Truyện Kiều), Văn tế thập loại chúng sinh (Văn chiêu hồn) và một số sáng tác đậm chất dân gian như Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu; vè Thác lèn trai phường nón.

Mở đầu Truyện Kiều, Nguyễn Du tâm sự:

“Trải qua một cuộc bể dâu

Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”.

Chính “những điều trông thấy” khiến tác phẩm của Nguyễn Du có thiên hướng hiện thực sâu sắc. Còn nỗi “đớn đau lòng” đã khiến Nguyễn Du trở thành một nhà thơ nhân đạo lỗi lạc.

Nguyễn Du là nhà thơ “đứng trong lao khổ mà mở hồn ra đón lấy tất cả những vang vọng của cuộc đời” (Nam Cao). Thơ chữ Hán của Nguyễn Du giống những trang nhật kí đời sống, nhật kí tâm hồn vậy. Nào là cảnh sống lay lắt, nào là ốm đau, bệnh tật cho đến cảnh thực tại của lịch sử… đều được Nguyễn Du ghi lại một cách chân thật (Đêm thu: Tự dưng làm thơ; Ngồi dèm…). Nguyễn Du vạch ra sự đối lập giữa giàu – nghèo trong Sở kiến hành hay Thái Bình mại giả ca… Nguyễn Du chống lại việc gọi hồn Khuất Nguyên về nước Sở của Tống Ngọc là bởi nước Sở “cát bụi lấm cả áo người” toàn thể “vuốt nanh”, “nọc độc”, “xé thịt người nhai ngọt xớt”… Nước Sở của Khuất Nguyên hay nước Việt của Tố Như cũng chỉ là một hiện thực: Cái ác hoành hành khắp mọi nơi, người tốt không chốn dung thân. Truyện Kiều mượn bôi cảnh đời Minh (Trung Quốc) nhưng đầu tiên là bản cáo trạng đanh thép ghi lại “những điều trông thấy” của Nguyễn Du về niên đại nhà thơ đang sống. Phản ánh với thái độ phê phán quyết liệt, này là thiên hướng hiện thực sâu sắc trong sáng tác của Nguyễn Du.

Sáng tác của Nguyễn Du bao trùm quan niệm nhân đạo, đầu tiên & trên hết là niềm quan tâm sâu sắc tới thân phận nhân loại. Truyện Kiều không những là bản cáo trạng mà đang là khúc ca ái tình tự do trong sáng, là chiêm bao tự do công lí “tháo cũi sổ lồng”. Nhưng toàn thể Truyện Kiều cốt yếu là tiếng khóc xé ruột cho thân phận & nhân phẩm nhân loại bị chà đạp, nhất là người phụ nữ.

“Đau đớn thay phận đàn bà

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”.

Không những Truyện Kiều mà chủ yếu các sáng tác của Nguyễn Du đều bao trùm cảm xúc xót thương, đớn đau: Từ Đọc Tiểu Thanh kí đến Người ca nữ đất Long Thành, từ Sở kiến hành đến Văn tế thập loại chúng sinh… thậm chí Nguyễn Du còn vượt cả cột mốc biên thuỳ, vượt cả ranh giới ta – địch & vượt cả sự cách trở âm dương để xót thương cho những kẻ chết trận, phơi “xương trắng” nơi “quỉ môn quan”.

Không những xót thương, Nguyễn Du còn trân trọng, khen ngợi vẻ đẹp, cùng những khát vọng sống, khát vọng ái tình hạnh phúc. Quan niệm nhân đạo của Nguyễn Du đã vượt mặt một số ràng buộc của ý thức hệ phong kiến & tôn giáo để vươn tới cam đoan giá trị tự thân của nhân loại. Này là quan niệm sâu sắc nhất mà ông đem đến cho văn học VN trong niên đại ông.

Nguyễn Du đã đóng góp lớn về mặt quan niệm, cùng lúc có những đóng góp trọng yếu về mặt văn nghệ.

Thơ chữ Hán của Nguyễn Du giản dị mà tinh luyện, tài hoa. Thơ Nôm Nguyễn Du thực sự là đỉnh cao đặc sắc. Nguyễn Du sử dụng một cách tài tình hai thể thơ dân tộc: Lục bát (Truyện Kiều) & song thất lục bát (Văn tế thập loại chúng sinh). Đến Nguyễn Du, thơ lục bát & song thất lục bát đã đoạt đến trình độ hoàn hảo, mẫu mực, cổ kính.

Nguyễn Du đóng góp rất lớn, rất trọng yếu cho sự tiến triển giàu đẹp của ngôn từ văn học Tiếng Việt: Tỉ lệ từ Hán – Việt giảm hẳn, câu thơ tiếng Việt vừa thông tục, vừa trang nhã, diễm lệ nhờ vần luật chỉnh tề, ngắt nhịp phong phú, tiểu đối đa dạng, biến hóa. Thơ Nguyễn Du xứng đáng là đỉnh cao của tiếng Việt văn học Trung Đại. Đặc biệt Truyện Kiều của Nguyễn Du là “tập đại thành” về ngôn từ văn học dân tộc.

Xem Thêm  Cách viết mã một trang web - sử dụng html và css để tạo trang web

Xin được mượn những câu thơ của nhà thơ Tố Hữu tri âm cùng Tố Như để thay cho lời kết:

“Tiếng thơ ai động đất trời

Nghe như non nước vọng lời ngàn thu

Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du

Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày”.

5. Thuyết minh về tác giả Nguyễn Du & tác phẩm Truyện Kiều – Mẫu 1

Nói đến những tác giả, tác phẩm xuất sắc của văn học trung đại VN, ta nghĩ ngay đến Nguyễn Du & tác phẩm Truyện Kiều của ông. Với tấm chân tình nhân đạo tha thiết & tài năng văn học kiệt xuất, Nguyễn Du để lại ấn tượng sâu sắc qua những sáng tác của ông, nhất là Truyện Kiều.

Nguyễn Du tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên (1765 – 1820), quê ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Xuất thân trong nhà quý tộc, nhiều đời làm quan, có truyền thống văn chương. Cha là Nguyễn Nghiễm làm tới tể tướng dưới triều Lê, cũng là người giỏi văn chương. Mẹ là bà Trần Thị Tân người con gái xứ Kinh Bắc. Anh khác mẹ (con bà chính) Nguyễn Khản làm tới Tham Tụng, Thái Bảo trong triều. Nguyễn Du sống ở niên đại đầy biến động của xã hội phong kiến VN, này là sự kì khủng hoảng trầm trọng, giai cấp cai quản thối nát, tham lam, tàn ác, các tập đoàn phong kiến (Lê – Trịnh- Nguyễn) chém giết lẫn nhau. Nông dân nổi dậy khởi nghĩa ở khắp mọi nơi, đời sống nhân dân khó khăn, nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra, tiêu biểu là trào lưu Tây Sơn mà đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Huệ. Những yếu tố này tác động nhiều tới cảm tình, nhận thức của Nguyễn Du. Ông sớm lâm vào cảnh mồ côi (9 tuổi cha mất, 12 tuổi mẹ mất), phải sống phiêu dạt nhiều năm, nhiều nơi, lúc ở Thăng Long, lúc lại vào quê nội Hà Tĩnh, có công đoạn về quê vợ ở Thái Bình. Những biến động lịch sử & cuộc sống đó đã tác động nhiều đến tâm hồn & quan niệm của Nguyễn Du. Bởi vậy ông cũng có nhiều tâm trạng: trung thành với nhà Lê, chống quân Tây sơn, sau này làm quan triều Nguyễn nhưng lại nhút nhát, u uất. Có thể nói cuộc sống ông chìm nổi, gian nan, đi nhiều nơi, tiếp xúc nhiều hạng người, đời từng trải, vốn sống đa dạng, có nhận thức sâu rộng, được xem như là một trong năm người giỏi nhất nước Nam lúc bấy giờ. Ông đang là người có con tim giàu lòng yêu thương, thông cảm sâu sắc với những người nghèo đói, với những thống khổ của nhân dân Nguyễn Du nổi tiếng đầu tiên bởi cái tâm của một người luôn nghĩ đến nhân dân, luôn bênh vực cho những cuộc sống. nhưng định mệnh éo le, oan trái, nhất là thân phận người phụ nữ.

Nguyễn Du cũng là người có năng khiếu văn học bẩm sinh, bậc thầy trong việc sử dụng tiếng Việt, người nổi tiếng chói lọi trong nền văn học trung đại VN. Về sự nghiệp, văn học Nguyễn Du có nhiều ý tưởng lớn cả về chữ Hán & chữ Nôm. Các sáng tác chữ Hán có Thanh Hiên thi tập (78 bài), Bắc hành tạp lục (125 bài), Nam trung tạp ngâm (40 bài)… sáng tác chữ Nôm có Vân chiêu hồn, Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu, tiêu biểu là tác phẩm Truyện Kiều hay có cách gọi khác là Đoạn trường tân thanh.

Truyện Kiều sinh ra đầu thế kỉ XIX (khoảng từ 1805 – 1809), lúc đầu có tên là “Đoạn trường tân thanh” (Tiếng kêu mới đứt ruột), sau này đổi thành “Truyện Kiều”. Tác phẩm viết dựa vào cuốn tiểu thuyết “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc) nhưng đã có sự ý tưởng tài tình & biến đổi, bổ sung nhiều yếu tố trong cốt chuyện cho phù phù hợp với bối cảnh xã hội VN lúc bấy giờ. Là truyện thơ Nôm được viết bằng thơ lục bát, dài 3254 câu, chia làm 3 phần (Gặp mặt & đính ước; Gia biến & lưu lạc; Đoàn viên). Chủ đề của truyện là viết về cuộc sống Kiều nhưng thông qua đó tố giác xã hội phong kiến lúc bấy giờ đã chà đạp, xô đẩy người phụ nữ vào bước đường cùng; cùng lúc khen ngợi vẻ đẹp tâm hồn của Thuý Kiều & của người phụ nữ nói chung. Tác phẩm còn trổ tài rất rõ hiện thực cuộc đời đương thời với “con mắt trông thấu sáu cõi, tấm lòng nghĩ tới muôn đời” của nhà thơ.

Truyện Kiều kể về cuộc sống truân chuyên của người con gái tài sắc Thuý Kiều. Thuý Kiều là một cô gái sinh trưởng trong nhà họ Vương có ba chị em: Thuý Kiều, Thuý Vân & Vương Quan. Kiều là người con gái tài năng & nhan sắc thuộc bậc trên người. Nàng đang là người con hiếu nghĩa. Trong hội đạp thanh, Kiều gặp Kim Trọng, họ đã yêu nhau sau đó đính ước. Khi Kim Trọng về Liêu Dương hộ tang chú, gia đình Kiều gặp tai biến, Kiều phải bán mình chuộc cha. Mã Giám sinh mua Kiều về Lâm Tri. Tú Bà lập kế biến nàng thành gái lầu xanh. Thúc Sinh chuộc Kiều & cưới nàng làm vợ lẽ. Nàng lại bị Hoạn Thư – vợ Thúc Sinh sai lính đến bắt về làm hoa nô & bày trò đánh ghen. Nàng trốn khỏi nhà Thúc Sinh. Nhưng lại rơi vào tay Bạc Bà, Bạc Hạnh phải vào lầu xanh lần thứ hai. Tại đây, Kiều gặp Từ Hải – một người hùng “đội trời, đạp đất”, chàng chuộc Kiều ra khỏi lầu xanh, giúp Kiều báo ơn, báo oán. Kiều lại mắc mưu Hồ Tôn Hiến, Từ Hải bị chết đứng. Kiều bị ép lấy viên thổ quan nể Nhục nhã, đớn đau, nàng nhảy xuống sông Tiền Đường tự tư. được sư Giác Duyên cứu & đi tu. Kim Trọng trở lại sau nửa năm, chàng kết duyên với Thuý Vân theo lời trao duyên của Kiều.

Sau này, Kim Trọng & Vương Quan đã bỏ nhiều công sức tìm Thúy Kiều. Rất may họ đã tái ngộ Thuý Kiều, Kiều được sum họp với gia đình & Kim Trọng sau mười lăm năm lưu lạc.

Giá trị của Truyện Kiều được trổ tài trên hai phương diện cốt yếu là bài viết & văn nghệ.

Giá trị bài viết trổ tài qua giá trị hiện thực & nhân đạo. Giá trị hiện thực của tác phẩm là phản ánh hiện thực xã hội đương thời với gương mặt tàn ác của giai cấp cai quản. Sức mạnh của đồng tiền & định mệnh những nhân loại bị áp bức, nạn nhân của đồng tiền, nhất là người phụ nữ. Gia đình nhà Vương ông đang sống an yên, chỉ vì một lời chẳng đâu vào đâu của thằng bán tơ “vu oan giá hoạ”, thế là cuộc đời yên lành bị phá vỡ, tai hoạ ở đâu ập xuống nhà Kiều. Sau cái cớ ấy bầy sai nha tiến vào nhà Kiều cướp phá đánh đập, chúng đã được một bầy quan lại dung túng, bảo lãnh, giật dây. Kẻ cầm đầu bầy vô lại đấy đã thẳng thắn đòi: “Có ba trăm lạng, việc này mới xong”. Tên quan xử kiện vụ án của Kiều được Nguyễn Du đặc tả: “Trông lên mặt sắt đen sì”. Hồ Tôn Hiến, tên quan lớn nhất trong Truyện Kiều, đại diện cho triều đình phong kiến với nhân cách là một Tổng đốc trọng thần nhưng lại “Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình”. Sức mạnh của đồng tiền khi nó nằm trong tay kẻ xấu thật khủng khiếp, đồng tiền đã thành một thế lực vạn năng chi phối mọi hoạt động, làm băng hoại lương tâm, nhân phẩm của nhân loại. Nhà phê bình văn học Hoài Thanh đã viết về đồng tiền trong Truyện Kiều: “Quan lại vì tiền mà bất chấp công lí, sai nha vì tiền mà tra tấn cha con Vương ông, Tú bà, Mã Giám sinh vì tiền mà làm nghề buôn thịt bán người, Sở Khanh vì tiền mà táng tận lương tâm, Khuyển Ưng vì tiền mà lao vào tội ác, cả một xã hội chạy theo đồng tiền”. Cuộc sống đầy nước mắt của người con gái tài sắc Thuý Kiều cũng xuất phát điểm từ chính sức mạnh & sự bất nhân của đồng tiền.

Giá trị nhân đạo được trổ tài đầu tiên là sự trân trọng ca tụng nhân loại từ bề ngoài, phẩm chất, tài năng khát vọng đến ước mong & ái tình chân chính. Về bề ngoài, ta thấy Thuý Vân là một thiếu nữ đoan trang nhân từ, Thuý Kiều đẹp thuộc diện “sắc trung chi thánh”- quá ư là hơn người, hơn đời, Kim Trọng đưa vẻ đẹp của một văn nhân thư sinh, Từ Hải đẹp kiểu người người hùng: vai năm tấc rộng thân mười thước cao. về phẩm chất Thuý Vân là một cô gái ngoan. Kim Trọng – một anh chàng chung thủy. Thuý Kiều tài năng (Cầm, kỳ, thi, hoạ) – một người con hiếu thảo, giàu đức hy sinh, người yêu chung thuỷ. Tình ái Kim Kiều – Tinh yêu hồn nhiên trong trắng, nó vượt sự ràng buộc hà khắc của lễ giáo phong kiến trong thời điểm chính sách phong kiến suy tàn.

Ngoài ra Truyện Kiều còn lên án, tố giác những thế lực tàn ác đã chà đạp lên quyền sống của nhân loại, ca tụng tự do & công lí. Thuý Kiều điển hình cho người phụ nữ trong xã hội xưa, mười lăm năm lưu lạc của nàng là một chuỗi bi kịch. Hình như bao nhiêu nỗi cực khổ của người lũ bà thời trước đều ập xuống vai nàng. Từ một cô tiểu thư các, Kiều trở thành hàng hoá để cho người ta mua bán, rồi Kiều bị lừa gạt bị rơi vào lầu xanh tới hai lần, đem thân đi làm lẽ, làm đứa ở, rồi bị đánh đòn, lãng nhục trở thành phạm nhân ở công đường, bị sỉ nhục, bị rơi vào cảnh giết chồng, chấm dứt là phải tự vẫn. Cuộc sống Thuý Kiều là một bản cáo trạng đanh thép tố giác xã hội phong kiến bất nhân, xã hội ấy khiến cho người lương thiện phải tìm đến tử vong. Còn khát vọng tự do & công lý được ông gửi gắm qua nhân vật Từ Hải & màn báo ơn báo oán.

Mặt khác Truyện Kiều còn trổ tài niềm thương cảm sâu sắc trước những thống khổ của nhân loại nhất là người phụ nữ. Nguyễn Du như khóc cùng tiếng lũ & cuộc sống của Thuý Kiều, ông cũng thổ lộ thái độ trân trọng Kiều cho dù có lúc nàng đã là hạng người dưới đáy của xã hội.

Mặt khác, Truyện Kiều của Nguyễn Du có thể khắc sâu trong lòng nhân dân như thế còn ở giá trị văn nghệ. Trong tác phẩm của mình ông đã bộc lộ sự tài hoa, sắc sảo trong văn nghệ tự sự, diễn tả nhân vật, tả cảnh, sử dụng từ ngữ… hay nói đúng hơn là giá trị văn nghệ của tác phẩm. Vê ngôn từ: Truyện Kiều là một kiệt tác văn nghệ, với bút pháp của một nghệ sĩ thiên tài, tiếng Việt trong Truyện Kiều đã đoạt đến độ giàu & đẹp. Vê văn nghệ tự sự, thành công của Truyện Kiều trên toàn bộ các phương diện: ngôn từ kể chuyện, văn nghệ xây dựng nhân vật, văn nghệ diễn tả – tả cảnh ngụ tình.

Đánh giá về Nguyễn Du & Truyện Kiều, tác giả Mộng Liên Đường trong lời tựa Truyện Kiều đã viết: (*7*) chính là đã tổng quan rất tuyệt vời về giá trị của Truyện Kiều trên mọi phương diện.

Từ quê hương, xã hội, gia đình, cuộc sống, năng khiếu bẩm sinh, đã tạo cho Nguyễn Du có con tim yêu thương vĩ đại, một thiên tài văn chương với sự nghiệp văn học có giá trị lớn. Ông là đại thi hào của dân tộc VN, là danh nhân văn hoá toàn cầu, đóng góp lớn lao so với sự tiến triển của văn học VN. Nguyễn Du & Truyện Kiều sẽ sống mãi với dân tộc & trở thành linh hồn của dân tộc.

6. Thuyết minh về tác giả Nguyễn Du & tác phẩm Truyện Kiều – Mẫu 2

Nguyễn Du là một đại thi hào dân tộc, một danh nhân văn hóa toàn cầu, một nhà nhân đạo lỗi lạc có “con mắt nhìn thấu sáu cõi” & “tấm lòng nghĩ suốt ngàn đời” (Mộng Liên Đường chủ nhân).

Nguyễn Du, tên chữ là Tố Như, biệt danh là Thanh Hiên, quê ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ông sinh năm 1765 (Ất Dậu) trong một gia đình có nhiều đời & nhiều người làm quan to dưới triều Lê, Trịnh. Cha là Nguyễn Nghiễm từng giữ chức Tể tướng 15 năm. Mẹ là Trần Thị Tần, một người phụ nữ Kinh Bắc có tài xướng ca.

Xem Thêm  Cách căn giữa mọi thứ bằng CSS - Căn chỉnh Div, Text, v.v. - các mục trung tâm trong css

Quê hương Nguyễn Du là mảnh đất địa linh, nhân kiệt, hiếu học & trọng tài. Gia đình Nguyễn Du có truyền thống học thức uyên thâm, có nhiều tài năng văn học. Gia đình & quê hương chính là “mảnh đất phì nhiêu” nuôi dưỡng thiên tài Nguyễn Du.

Thời thơ dại, Nguyễn Du sống trong nhung lụa. Lên 10 tuổi lần lượt mồ côi cả cha lẫn mẹ, cuộc sống Nguyễn Du khởi đầu gặp những sóng gió trong cơn quốc biến ba đào: sống nhờ Nguyễn Khản (anh cùng cha khác mẹ làm Thừa tướng phủ chúa Trịnh) thì Nguyễn Khản bị giam, bị Kiêu binh phá nhà phải chạy trốn. Năm 19 tuổi, Nguyễn Du thi đỗ tam trường rồi làm một chức quan bất tận Thái Nguyên. Chẳng bao lâu nhà Lê sụp đổ (1789) Nguyễn Du lánh về quê vợ ở Thái Bình rồi vợ mất, ông lại về quê cha, có lúc lên Bắc Ninh quê mẹ, nhiều đặc biệt là thời gian ông sống không nhà ở đế cung Thăng Long.

Hơn mười năm chìm nổi long đong ngoài đất Bắc, Nguyễn Du sống thân thiện nhân dân & thấm thía biết bao nỗi ấm lạnh kiếp người, nhất là người dân lao động, phụ nữ, trẻ con, cầm ca, ăn xin… những nhân loại “dưới đáy”. Chính nỗi xấu số lớn trong cuộc sống đã nung đúc nên thiên tài Nguyễn Du – nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn.

Miễn cưỡng trước lời mời của nhà Nguyễn, Nguyễn Du ra làm quan. Năm 1813 được thăng chức Học sĩ điện cần Chánh & được cử làm Chánh sứ đi Trung Quốc. Năm 1820, ông lại được cử đi lần thứ hai nhưng chưa kịp đi thì mất đột ngột ngày 10 tháng 8 năm Canh Thìn (18-9-1820). Suốt thời gian làm quan cho nhà Nguyễn, Nguyễn Du sống trầm lặng, ít nói, có nhiều tâm sự không biết tỏ cùng ai.

Quan niệm Nguyễn Du khá cầu kỳ & có những tranh chấp: trung thành với nhà Lê, không hợp tác với nhà Tây Sơn, bất đắc dĩ làm quan cho nhà Nguyễn. Ông là một người hợp lí tưởng, có hoài bão nhưng trước cuộc sống gió bụi lại u sầu, Nguyễn Du coi mọi chuyện (tu Phật, tu tiên, đi câu, đi săn. hành lạc…) đều là chuyện hão nhưng lại rơi lệ đoạn trước những cuộc bể dâu. Nguyễn Du đã đứng giữa giông tố cuộc sống trong một công đoạn lịch sử đầy bi kịch. Này là bi kịch của đời ông nhưng chính điều này lại khiến tác phẩm của ông ẩn chứa chiều sâu chưa từng có trong thơ văn VN.

Nguyễn Du có ba tập thơ chữ Hán là: Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm & Bắc hành tạp lục, tổng cộng 250 bài thơ Nôm, Nguyễn Du có kiệt tác Đoạn trường tân thanh (Truyện Kiều), Văn tế thập loại chúng sinh (Văn chiêu hồn) & một số sáng tác đậm chất dân gian như Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu; về Thác lèn trai phường nón.

Mở màn Truyện Kiều, Nguyễn Du tâm sự:

“Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”.

Chính “những điều trông thấy” khiến tác phẩm của Nguyễn Du có khuynh hướng hiện thực sâu sắc. Còn nỗi “đau đớn lòng” đã khiến Nguyễn Du trở thành một nhà thơ nhân đạo lỗi lạc.

Nguyễn Du là nhà thơ “đứng trong lao khổ, mở hồn ra đón lấy tất cả ĩ hăng vang động của đời” (Nam Cao). Thơ chữ Hán của Thanh Hiên giống hửng trang nhật kí đời sống, nhật kí tâm hồn vậy. Nào là cảnh sống lay, nào là ốm đau, bệnh tật cho đến cảnh thực tại của lịch sử đều được Nguyễn Du ghi lại một cách chân thực (Đêm thu: Tình cờ làm thơ; Ngồi dèm…). Nguyễn Du vạch ra sự đối lập giữa giàu – nghèo trong Sở kiến hành hay Thái Bình mại giả ca. Nguyễn Du chống lại việc gọi hồn Khuất Nguyên về nước Sở của Tống Ngọc là bởi nước Sở “cát bụi lầm cả áo người” toàn bộ “vuốt nanh”, “nọc độc”, “xé thịt người nhai ngọt xớt”. Nước Sở của Khuất Nguyên hay nước Việt của Tố Như cũng chỉ là một hiện thực: cái ác hoành hành khắp mọi nơi, người tốt không chốn dung thân. Truyện Kiều mượn hoàn cảnh đời Minh (Trung Quốc) nhưng đầu tiên là bản cáo trạng đanh thép ghi lại “những điều trông thấy” của Nguyễn Du về niên đại nhà thơ đang sống. Phản ánh với thái độ phê phán quyết liệt, này là thiên hướng hiện thực sâu sắc trong sáng tác của Nguyễn Du.

Sáng tác của Nguyễn Du bao trùm quan niệm nhân đạo, đầu tiên & trên hết là niềm quan tâm sâu sắc tới thân phận nhân loại. Truyện Kiều không những là bản cáo trạng mà đang là khúc ca ái tình tự do trong sáng, là chiêm bao tự do công lí “tháo cũi sổ lồng”. Nhưng toàn thể Truyện Kiều cốt yếu là tiếng khóc xé ruột cho thân phận & nhân phẩm nhân loại bị chà đạp, nhất là người phụ nữ.

“Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”

Không những Truyện Kiều mà chủ yếu các sáng tác của Nguyễn Du đều bao trùm cảm xúc xót thương, đớn đau: từ Đọc Tiểu Thanh kí đến Người ca nữ đất Long Thành, từ Sờ kiến hành đến Văn té thập loại chúng sinh thậm chí Nguyễn Du còn vượt cả cột mốc biên thuỳ, vượt cả ranh giới ta – địch & vượt cả sự cách trở âm dương để xót thương cho những kẻ chết trận, phơi “sương trắng” nơi “quỷ môn quan”.

Không những xót thương, Nguyễn Du còn trân trọng, khen ngợi vẻ đẹp, cùng những khát vọng sống, khát vọng ái tình hạnh phúc. Quan niệm nhân đạo của Nguyễn Du đã vượt mặt một số ràng buộc của ý thức hệ phong kiến & tôn giáo để vươn tới cam đoan giá trị tự thân của nhân loại. Này là quan niệm sâu sắc nhất mà ông đem đến cho văn học VN trong niên đại ông.

Nguyễn Du đã đóng góp lớn về mặt quan niệm, cùng lúc có những đóng góp trọng yếu về mặt văn nghệ.

Thơ chữ Hán của Nguyễn Du giản dị mà tinh luyện, tài hoa. Thơ Nôm Nguyễn Du thực sự là đỉnh cao đặc sắc. Nguyễn Du sử dụng một cách tài tình hai thể thơ dân tộc: lục bát (Truyện Kiều) & song thất lục bát (Văn tế thập loại chúng sinh). Đến Nguyễn Du, thơ lục bát & song thất lục bát đã đoạt đến trình độ hoàn hảo, mẫu mực, cổ kính.

Nguyễn Du đóng góp rất lớn, rất trọng yếu cho sự tiến triển giàu đẹp của ngôn từ văn học Tiếng Việt: tỉ lệ từ Hán – Việt giảm hẳn, câu thơ tiếng Việt vừa thông tục, vừa trang nhã, diễm lệ nhờ vần luật chỉnh tề, ngắt nhịp phong phú, tiểu đối đa dạng, biến hóa. Thơ Nguyễn Du xứng đáng là đỉnh cao của tiếng Việt văn học Trung Đại. Đặc biệt Truyện Kiều của Nguyễn Du là “tập đại thành” về ngôn từ văn học dân tộc.

Xin được mượn những câu thơ của nhà thơ Tố Hữu tri âm cùng Tố Như để thay cho lời kết:

“Tiếng thơ ai động đất trời
Nghe như non nước vọng lời ngàn thu
Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du
Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày”.

7. Thuyết minh về tác giả Nguyễn Du & tác phẩm Truyện Kiều – Mẫu 3

Khi kể về những tác giả, tác phẩm nổi tiếng trong nền văn học trung đại VN, tất cả chúng ta chẳng thể nào không kể tới đại thi hào dân tộc Nguyễn Du cùng tác phẩm Truyện Kiều của ông. Với những tri thức uyên bác của mình cùng tài năng văn học xuất chúng, ông đã sáng tác ra tác phẩm có giá trị bằng chữ Nôm & chữ Hán. Trong số đó nổi trội lên tác phẩm Truyện Kiều.

Nguyễn Du sinh năm 1765, mất năm 1820, tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên, quê ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ông sinh trưởng trong một gia đình đại quý tộc, nhiều đời làm quan, có truyền thống văn học. Cha là Nguyễn Nghiễm, cũng là người giỏi văn chương. Ông thi đỗ tiến sĩ & làm quan Tể tướng. Mẹ là bà Trần Thị Tân, người con gái Bắc Kinh cũng văn hay chữ tốt. Anh cùng cha khác mẹ là Nguyễn Khản cũng làm quan từ dưới thời Lê Trịnh. Tuy gia cảnh xuất thân danh giá nhưng cuộc sống của ông toàn những nỗi đau. Năm 13 tuổi, ông mồ côi cả cha lẫn mẹ, phải sống với Nguyễn Khản. Nhưng khi ông 15 tuổi, Nguyễn Khản bị khép tội mưu phản, ông lại phải nương nhờ nhà họ hàng xa,, Có thể nói cuộc sống Nguyễn Du đồng hành sâu sắc với những biến cố lịch sử công đoạn của thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX. Đây là công đoạn đầy biến động khi mà giai cấp thống trị thối nát, tham lam, không quan tâm nhân dân, họ chém giết lẫn nhau để tranh giành quyền lực. Có thể nói chính sách phong kiến VN bây giờ đã khủng hoảng trầm trọng & những người dân khốn khổ bây giờ đã nổi dậy đại chiến & tiêu biểu đặc biệt là khởi nghĩa Tây Sơn của Nguyễn Huệ. Trong cảnh ấy, Nguyễn Du đã sống phiêu dạt nhiều nơi, lúc ở Thăng Long, lúc ở quê nội Hà Tĩnh, có lúc lại ở quê với Thái Bình. Không may khi mà Nguyễn Ánh lên ngôi năm 1802, Nguyễn Du phải bất đắc dĩ làm quan. Trước khi ông phụng sự nhà Lê nên hiện thời, khi làm quan nhà Nguyễn ông lại nhút nhát, ông được cử sang Trung Quốc hai lần nhưng lần hai vào năm 1820 chưa kịp đi thì ông bị bệnh & mất tại Huế. Cuộc sống ông ba chìm bảy nổi nhưng chính vì như vậy ông có được vốn tri thức sâu rộng cùng nỗi lòng thương cảm xót xa với định mệnh bi thảm của người dân.

Nguyễn Du là một thiên tài văn học với nhiều tác phẩm có giá trị gồm ba tập thơ bằng chữ Hán gồm Thanh Hiên Thi tập, Bắc Hành tạp lục, Nam Trung tạp ngôn & tác phẩm chữ Nôm xuất sắc đặc biệt là Truyện Kiều.

Truyện Kiều tên ngày xưa là “Đoạn trường Tân Thanh” là tác phẩm tiêu biểu nhất của chuyên mục truyện Nôm trong văn học trung đại VN. Viết Truyện Kiều, Nguyễn Du có dựa vào truyện “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm tài nhân Trung Quốc nhưng phần ý tưởng của Nguyễn Du là rất lớn khi tác phẩm của ông được viết bằng thể thơ lục bát gồm 3254 câu thơ gồm ba công đoạn: Gặp mặt & đính ước, Gia biến & lưu lạc, Đoàn viên, truyện được tóm lược như vậy này:

Thúy Kiều là một thiếu nữ tài sắc toàn vẹn, sinh trưởng trong nhà trung lưu lương thiện họ Vương, nhà có ba chị em: Thúy Kiều, Thúy Vân & Vương Quan. Trong một lần du xuân Kiều gặp mặt Kim Trọng, họ đã yêu nhau, sau đó đi tới đính ước. Khi Kim Trọng về Liêu Dương để tang chú, gia đình Kiều gặp biến cố, Kiều phải bán thân chuộc cha. Nàng bị bầy buôn người là Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh lừa gạt, đẩy vào lầu xanh. Lần đầu, Thúc Sinh chuộc Kiều & cưới nàng làm vợ lẽ, nhưng nàng bị Hoạn Thư đánh ghen. Nàng trốn khỏi nhà Thúc Sinh nhưng lại rơi vào tay Bạc Hà, Bạc Hạnh phải vào lầu xanh lần hai. Tại đây Kiều gặp Từ Hải – một người hùng “đội trời đạp đất” chàng chuộc Kiều ra khỏi lầu xanh, giúp Kiều báo ơn, báo oán. Kiều lại mắc mưu Hồ Tôn Hiến, Từ Hải bị chết đứng, Kiều bị ép lấy viên quan thổ quan. Nhục nhã, đớn đau nàng nhảy xuống sông Tiền. Nàng được sư Giác Duyên cứu & Thúy Kiều đi tu. Kim Trọng trở lại kết duyên với Thúy Vân nhưng vẫn không quên được Kiều, chàng đi tìm. Gặp được sư Giác Duyên nhờ này mà gặp được Kiều. Hai người sum họp nhưng duyên đôi lứa cũng từng hết.

Có thể nói đây là một tuyệt tác với bài viết sâu sắc cùng văn nghệ thành công. Đây là một bức họa của một xã hội tàn ác bất công, chà đạp lên những nhân loại nghèo đói, nhất là người phụ nữ. Qua đó lên án các thế lực xấu xa. Cùng lúc ca tụng vẻ đẹp bề ngoài, tài năng cùng nhân phẩm & khát vọng chân chính của nhân loại về tự do hạnh phúc, chân lí. Nguyễn Du là một nhà thiên tài văn học, triệu phú, văn hóa, nhà nhân chủ nghĩa có tác động tới sự tiến triển của nền văn học Việt nam. Nguyễn Du & Truyện Kiều sẽ sống mãi trong lòng đọc giả, sống mãi với dân tộc.

Mời các bạn đọc thêm các thông tin hữu hiệu khác trên chuyên đề Ebook của HoaTieu.vn.

Viết một bình luận