Các yếu tố hình học trong môn toán lớp 2

Các yếu tố hình học trong môn toán lớp 2

Bạn đang xem bản tóm gọn của ebook. Xem & tải ngay bản đầy đủ của ebook tại đây (325.17 KB, 20 trang )

Tên chủ đề

Các yếu tố hình học trong môn toán lớp 2

Môn toán là một trong những môn học có địa điểm trọng yếu ở bậc Tiểu học.
Trong những năm gần đây, xu hướng chung của toàn cầu là cải cách công thức dạy học
nhằm phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động ý tưởng của học sinh trong công cuộc
dạy học. Một trong những phòng ban cấu thành chương trình toán Tiểu học đưa ý nghĩa
chuẩn bị cho việc học môn hình học ở các cấp học trên, song song giúp học sinh
những hiểu biết thiết yếu khi tiếp xúc với những “tình huống toán học” trong cuộc
sống mỗi ngày.
Trong nhiều năm học, tôi đã dạy lớp 2. Tôi nhận biết việc dạy các yếu tố hình
học trong chương trình toán ở bậc tiểu học nói chung & ở lớp 2 nói riêng là hết sức
thiết yếu. ở lứa tuổi học sinh tiểu học, suy nghĩ của các con còn giới hạn về mặt suy luận,
nghiên cứu việc dạy “các yêu tốc hình học” ở Tiểu học sẽ góp thêm phần giúp học sinh phát
triển được năng lực suy nghĩ, khả năng xem xét, trí tưởng tượng cao & tuyệt kỹ thực
hành hình học đặt nền tảng vững bền cho các em học tốt môn hình học sau này ở
cấp học phổ thông nền tảng.
Việc dạy các yếu tố hình học lớp 12 như vậy nào để đạt được hiệu quả tốt nhất
phát huy được tính chủ động tích cực của học sinh phù phù hợp với yêu cầu cải cách của
công thức dạy học này là bài viết tôi mong muốn đề cập tới trong chủ đề.

Bài viết chủ đề

Ι. Nguyên nhân viết.

Trong những năm gần đây, trào lưu cải cách công thức dạy học trong
trường Tiểu học được quan tâm & đẩy mạnh không ngừng để ngay từ cấp Tiểu học,

mỗi học sinh đều cần & có thể đạt được trình độ học vấn toàn diện, song song phát
triển được khả năng của mình về một môn nào đó nhằm chuẩn bị ngay từ bậc Tiểu học
những loài người chủ động, ý tưởng giải quyết được mục tiêu chung của cấp học & phù
phù hợp với yêu cầu tiến triển của quốc gia.
Dạy toán ở tiểu học vừa phải bảo đảm tính hệ thống đúng đắn của toán học vừa
phải bảo đảm tính vừa sức của học sinh. Phối hợp yêu cầu này là một việc làm khó, đòi
hỏi tính khoa học & nhận thức, tốt về cả bài viết lẫn công thức. Trong chương
trình dạy toán 2 các yếu tối hình học được đề cập dưới những hình thức hoạt động hình
học như: Nhận dạng & gọi đúng tên hình chữ nhật, đường thẳng, đường gấp khúc, biết
tính độ dài đường gấp khúc, tính chu vi hình tam giác, hình tứ giác, biết thực hành vẽ
hình.
Một trong những trách nhiệm căn bản dạy học các yếu tố hình học ở lớp 2 là cung
cấp cho học sinh những biểu tượng hình học dễ dàng, bước đầu làm quen với các thao
tác lựa chọn, nghiên cứu, đo đạc hình, tiến triển suy nghĩ, trí tưởng tượng không gian.
Bài viết các yếu tố hình học không nhiều, các quan hệ hình học ít, có vẻ vì phạm vi
tri thức các yếu tố hình học như thế đã làmcho việc tìm hiểu bài viết dạy học
này càng lý thú.
không dừng lại ở đó, tôi còn Note học hỏi, dự giờ cộng sự trong & ngoài trường để
áp dụng ý tưởng lốp sao cho thích hợp & ngày càng có hiệu quả. Sau đây tôi xin trình
bày một vài kinh nghiệm mà tôi chú tâm nghĩ suy thực hiện trong năm học này.

II. bài viết việc làm:

* Bài viết về “các yếu tố hình học” & yêu cầu căn bản về tri thức, tuyệt kỹ
trong chương trình lớp 2.
1. Bài viết chương trình:
Bài viết dạy học các yếu tố hình học lớp 2 đa dạng, phong phú, được giới thiệu

đầy đủ về đường thẳng, ba điểm thẳng hàng.
– Đường gấp khúc
– Tính độ dài đường gấp khúc.
– Giới thiệu hình tứ giác, hình chữ nhật. Vẽ hình trên giấy ô vuông.
– Giới thiệu định nghĩa ban đầu về chu vi của hình học.
Cấu tạo, bài viết các yếu tố hình học trong sách giáo khoa toán 2 được sắp
xếp hòa lẫn với các mạch tri thức khác thích hợp sự tiến triển theo từng công đoạn
của học sinh.

2. Yêu cầu căn bản về tri thức & tuyệt kỹ:
– Học viên biết nhận ra dạng & gọi đúng tên hình chữ nhật, hình tứ giác,
đường thẳng, đường gấp khúc. Đặc biệt Note học sinh (nhận dạng hình “tổng thể”),
chưa yêu cầu nhận biết hình chữ nhật cũng là hình tứ giác, hình vuông cũng là hình chữ
nhật.
– Biết thực hành vẽ hình (theo mẫu) trên giấy ô vuông, xếp, ghép các hình đơn
giản.
– Học viên bước đầu làm quen với các thao tác lựa chọn, nghiên cứu, đo đạc
hình, tiến triển suy nghĩ, trí tưởng tượng không gian…

3. Dạy các yếu tố hình học ở lớp 2:
Các yếu tố hình học trong SGK lớp 2 đã bám sát trình độ chuẩn (trổ tài các
yêu cầu căn bản về tri thức & tuyệt kỹ mà học sinh cần đạt được, phù phù hợp với mức độ
ở lớp 2 như nhận dạng hình tổng thể, các bài thực hành, luyện tập dễ dàng, bài tập
xếp, ghép hình, dễ thực hiện…). Với hệ thống các bài tập phong phú đã gây hứng khởi học
tập của học sinh.
ở lớp 2, chưa yêu cầu học sinh nắm được các định nghĩa, được những hình học
dựa theo các đặc tính quan hệ các yếu tố của hình (ví dụ chưa yêu cầu học sinh

Xem Thêm  Cách xóa tệp trong Java - xóa tệp bằng java

biết hình chữ nhật là hình tứ giác có 4 góc vuông, hoặc có 2 cạnh đối mặt bằng nhau)

chỉ yêu cầu học sinh nhận ra được hình ở dạng “tổng thể” phân biệt được hình này
với hình khác & gọi đúng trên hình của nó. Bước đầu vẽ được hình đó bằng cách nối
các điểm hoặc vẽ dựa theo các đường kẻ ô vuông (giấy kẻ ô ly,…).
Một cách khác nữa, khi dạy thì gia sư cần Note cho học sinh có thói quen đặt
thắc mắc “tại sao” & tự nghĩ suy để giải đáp các thắc mắc đó. Trong nhiều tình huống giáo
viên còn tồn tại thể đề ra thắc mắc “Tại sao làm như vậy? Có cách nào khác không? Có
cách nào hay hơn không?”. Các thắc mắc của gia sư như “tại sao”, “vì sao” đã thôi
thúc học sinh phải nghĩ suy tìm hiểu giải thích. Này là điểm dựa để đề ra cách làm hoặc
cách giải sự lựa chọn trong vốn tri thức đã học để giải đáp.
Khi dạy các yếu tố hình học cho học sinh lớp 2, việc tập cho học sinh có thói
quen đề ra thắc mắc “tại sao” & tìm cách giải thích khiến cho vấn đề được minh bạch là
trách nhiệm của người gia sư. Từ thói quen trong nghĩ suy ta hình thành & tập luyện
thói quen đó trong diễn tả, trong trình bày.
Chẳng hạn: Bài chu vi hình tam giác.
Cho học sinh nhắc nhở lại phương pháp tính chu vi của hình tam giác.

Học viên có thể tính chu vi tam giác bằng các cách:
4 = 4 = 4 = 12 (cm)
Hoặc : 4 Ҳ 3 = 12 (cm)
4cm

?
Ɓ
4cm 4cm

Cho học sinh so sánh các kết quả cam kết là làm đúng.
Lúc đó gia sư hỏi: Vì sao con lại lấy 4 Ҳ 3 để tính chu vi hình tam giác (vì 3
cạnh hình tam giác có số đo bằng nhau = 4 cm).
– So sánh 2 cách làm trên con thấy cách nào làm nhau hơn? (cách 2).
+ Tổng độ dài các cạnh của hình tam giác là chu vi của hình tam giác đó.
* Trong SGK toán 2, hệ thống các bài tập thực hành về yếu tố hình học có
mấy dạng căn bản sau:
1. Về “nhận biết hình”:
α. Về “đoạn thẳng, đường thẳng”.
Vấn đề “đoạn thẳng, đường thẳng” được giới thiệu ở tiểu học có thể có nhiều
cách khác nhau. Trong sách toán 2, định nghĩa “đường thẳng” được giới thiệu khởi đầu
từ “đoạn thẳng” (đã được học ở lớp 1) như sau:
– Cho điểm ? & điểm Ɓ, lấy thước & bút nối hai điểm đó ta được đoạn thẳng
AB.

– Kéo dài đoạn thẳng AB về hai phía, ta được đường thẳng AB

– Note: Định nghĩa đường thẳng không khái niệm được, học sinh làm quen với
“biểu tượng” về đường thẳng thông qua hoạt động thực hành: Vẽ đường thẳng qua 2
điểm, vẽ đường thẳng qua một điểm.
ɓ. Nhận ra giao điểm giao điểm của hai đoạn thẳng:
Chẳng hạn bài 4 trang 49
Đoạn thẳng AB cắt đoạn thẳng CD tại điểm nào?

? Ɓ
? Ɓ
?
Ɓ

?

– Khi chữa bài gia sư cho học sinh tập diễn tả kết quả bài làm. Ví dụ
học sinh nêu lại “Đoạn thẳng AB cắt đoạn thẳng CD tại điểm O”.
Hoặc gia sư hỏi: Có cách nào khác không? Học viên nghĩ suy giải đáp: “Hai
đoạn thẳng AB và CD cắt nhau tại điểm O”. Hoặc “O là điểm cắt nhau của đường
thẳng AB và CD”.
ͼ. Nhận ra 3 điêm thẳng hàng:
Chẳng hạn: Bài 2 trang 73
Nêu tên 3 điểm thẳng hàng (dùng thước thẳng để kiểm soát):

α) ɓ)

– Cô giáo giới thiệu về ba điểm thẳng hàng (ba điểm phải cùng nằm trên một
đường thẳng).
– Học viên phải dùng thước kẻ kiểm soát xem có các bộ ba điểm nào thẳng hàng
rồi chữa.
Chẳng hạn như:

α. Ba điểm Σ, ʍ, Ռ thằng hàng; Ba điểm Σ, Ρ, Ǫ thẳng hàng.
ɓ. Ba điểm Ɓ, Σ, ? thẳng hàng; Ba điểm ?, Σ, ₵ thẳng hàng.
{d}. Nhận ra hình chữ nhật, hình tứ giác
ở lớp 2, chưa yêu cầu học sinh nắm được định nghĩa, khái niệm hình học dựa
trên các đặc tính, quan hệ các ty của hình (ví dụ, chưa yêu cầu học sinh biết hình
chữ nhật là tứ giác có 4 góc vuông, hoặc có 2 cạnh đối mặt bằng nhau …), chỉ yêu cầu
học sinh phân biệt được hình ở dạng “tổng thể”, phân biệt được hình này với hình thức
khác & gọi đúng tên hình của nó. Bước đầu vẽ được hình đó bằng cách nối các điểm
hoặc vẽ dựa theo các đường kẻ ô vuông (giấy kẻ ô ly)…
Chẳng hạn dạy học bài “Hình chữ nhật” theo yêu cầu trên, có thể như sau:
Σ
ʍ
Ռ
Ρ Ǫ
?
Σ
Ɓ

?

– Giới thiệu hình chữ nhật (học sin được xem xét vật chất có dạng hình chữ
nhật, là các miếng bìa hoặc nhựa trong hộp vật dụng học tập, để nhận ra dạng tổng
thể “đây là hình chữ nhật”).

Xem Thêm  Hiệu ứng lật CSS khi di chuột | Hiệu ứng lật 3D với HTML & CSS - css khi di chuột quay

– Vẽ & ghi tên hình chữ nhật (nối 4 điểm trên giấy kẻ ô vuông để được hình chữ
nhật, ví dụ hình chữ nhật ABCH, hình chữ nhật MNPQ).

? Ɓ

? ₵

Ǫ Ρ

– Nhận ra được hình chữ nhật trong tập hợp một số hình (có cả hình không
phải là hình chữ nhật), ví dụ:
Tô màu (hoặc đánh dấu Ҳ ) vào hình chữ nhật có trong mỗi hình sau:

– Thực hành củng cố nhận biêt hình chữ nhật:
ʍ Ռ

Chẳng hạn: Bài 1 trang 85:
Mỗi hình dưới đây là hình gì?

α)

{d})

ɓ)

e)

ͼ)

ɢ)

e. Nhận ra đường gấp khúc:
Cô giáo cho học sinh xem xét đường gấp
khúc ABCD.
Đường gấp khúc ABCD gồm 3 đoạn
thẳng: AB, BC & CD .
Độ dài đường gấp khúc ABCD là tổng độ
dài các đoạn

Đường gấp khúc ABCD

Cô giáo giới thiệu:
Đây là đương gấp khúc ABCD (chỉ vào hình vẽ). Học viên lần lượt nhắc nhở lại:
“Đường gấp khúc ABCD”.
Cô giáo hỏi: Đường gấp khúc này gồm mấy đoạn? Học viên nêu: Gồm 3 đoạn
thẳng AB, BC, CD (Ɓ là điểm giống nhau của hai đoạn thẳng AB & BC, ₵ là điểm giống nhau
của hai đoạn thẳng BC & CD).
Học viên được thực hành ở tiếp bài tập 3 (trang 104).
Ghi tên các đường gấp khúc có trong hình vẽ sau, biết:
2cm
4 ɱ
3 ɱ

?

?

mỗi học sinh đều cần & có thể đạt được trình độ học vấn toàn diện, song song pháttriển được khả năng của mình về một môn nào đó nhằm chuẩn bị ngay từ bậc Tiểu họcnhững loài người chủ động, ý tưởng giải quyết được mục tiêu chung của cấp học & phùhợp với yêu cầu tiến triển của quốc gia.Dạy toán ở tiểu học vừa phải bảo đảm tính hệ thống đúng đắn của toán học vừaphải bảo đảm tính vừa sức của học sinh. Phối hợp yêu cầu này là một việc làm khó, đòihỏi tính khoa học & nhận thức, tốt về cả bài viết lẫn công thức. Trong chươngtrình dạy toán 2 các yếu tối hình học được đề cập dưới những hình thức hoạt động hìnhhọc như: Nhận dạng & gọi đúng tên hình chữ nhật, đường thẳng, đường gấp khúc, biếttính độ dài đường gấp khúc, tính chu vi hình tam giác, hình tứ giác, biết thực hành vẽhình.Một trong những trách nhiệm căn bản dạy học các yếu tố hình học ở lớp 2 là cungcấp cho học sinh những biểu tượng hình học dễ dàng, bước đầu làm quen với các thaotác lựa chọn, nghiên cứu, đo đạc hình, tiến triển suy nghĩ, trí tưởng tượng không gian.Bài viết các yếu tố hình học không nhiều, các quan hệ hình học ít, có vẻ vì phạm vikiến thức các yếu tố hình học như thế đã làmcho việc tìm hiểu bài viết dạy họcnày càng lý thú.không dừng lại ở đó, tôi còn Note học hỏi, dự giờ cộng sự trong & ngoài trường đểvận dụng ý tưởng lốp sao cho thích hợp & ngày càng có hiệu quả. Sau đây tôi xin trìnhbày một vài kinh nghiệm mà tôi chú tâm nghĩ suy thực hiện trong năm học này.II. bài viết việc làm:* Bài viết về “các yếu tố hình học” & yêu cầu căn bản về tri thức, kỹ năngtrong chương trình lớp 2.1. Bài viết chương trình:Bài viết dạy học các yếu tố hình học lớp 2 đa dạng, phong phú, được giới thiệuđầy đủ về đường thẳng, ba điểm thẳng hàng.- Đường gấp khúc- Tính độ dài đường gấp khúc.- Giới thiệu hình tứ giác, hình chữ nhật. Vẽ hình trên giấy ô vuông.- Giới thiệu định nghĩa ban đầu về chu vi của hình học.Cấu tạo, bài viết các yếu tố hình học trong sách giáo khoa toán 2 được sắpxếp hòa lẫn với các mạch tri thức khác thích hợp sự tiến triển theo từng giai đoạncủa học sinh.2. Yêu cầu căn bản về tri thức & tuyệt kỹ:- Học viên biết nhận ra dạng & gọi đúng tên hình chữ nhật, hình tứ giác,đường thẳng, đường gấp khúc. Đặc biệt Note học sinh (nhận dạng hình “tổng thể”),chưa yêu cầu nhận biết hình chữ nhật cũng là hình tứ giác, hình vuông cũng là hình chữnhật.- Biết thực hành vẽ hình (theo mẫu) trên giấy ô vuông, xếp, ghép các hình đơngiản.- Học viên bước đầu làm quen với các thao tác lựa chọn, nghiên cứu, tổng hợphình, tiến triển suy nghĩ, trí tưởng tượng không gian…3. Dạy các yếu tố hình học ở lớp 2:Các yếu tố hình học trong SGK lớp 2 đã bám sát trình độ chuẩn (trổ tài cácyêu cầu căn bản về tri thức & tuyệt kỹ mà học sinh cần đạt được, phù phù hợp với mức độở lớp 2 như nhận dạng hình tổng thể, các bài thực hành, luyện tập dễ dàng, bài tậpxếp, ghép hình, dễ thực hiện…). Với hệ thống các bài tập phong phú đã gây hứng khởi họctập của học sinh.ở lớp 2, chưa yêu cầu học sinh nắm được các định nghĩa, được những hình họcdựa trên các đặc tính quan hệ các yếu tố của hình (ví dụ chưa yêu cầu học sinhbiết hình chữ nhật là hình tứ giác có 4 góc vuông, hoặc có 2 cạnh đối mặt bằng nhau)chỉ yêu cầu học sinh nhận ra được hình ở dạng “tổng thể” phân biệt được hình nàyvới hình khác & gọi đúng trên hình của nó. Bước đầu vẽ được hình đó bằng cách nốicác điểm hoặc vẽ dựa theo các đường kẻ ô vuông (giấy kẻ ô ly,…).Một cách khác nữa, khi dạy thì gia sư cần Note cho học sinh có thói quen đặtcâu hỏi “tại sao” & tự nghĩ suy để giải đáp các thắc mắc đó. Trong nhiều tình huống giáoviên còn tồn tại thể đề ra thắc mắc (*2*). Các thắc mắc của gia sư như “tại sao”, “vì sao” đã thôithúc học sinh phải nghĩ suy tìm hiểu giải thích. Này là điểm dựa để đề ra cách làm hoặccách giải sự lựa chọn trong vốn tri thức đã học để giải đáp.Khi dạy các yếu tố hình học cho học sinh lớp 2, việc tập cho học sinh có thóiquen đề ra thắc mắc “tại sao” & tìm cách giải thích khiến cho vấn đề được minh bạch lànhiệm vụ của người gia sư. Từ thói quen trong nghĩ suy ta hình thành & rèn luyệnthói quen đó trong diễn tả, trong trình bày.Chẳng hạn: Bài chu vi hình tam giác.Cho học sinh nhắc nhở lại phương pháp tính chu vi của hình tam giác.Học viên có thể tính chu vi tam giác bằng các cách:4 = 4 = 4 = 12 (cm)Hoặc : 4 Ҳ 3 = 12 (cm)4cm4cm 4cmCho học sinh so sánh các kết quả cam kết là làm đúng.Lúc đó gia sư hỏi: Vì sao con lại lấy 4 Ҳ 3 để tính chu vi hình tam giác (vì 3cạnh hình tam giác có số đo bằng nhau = 4 cm).- So sánh 2 cách làm trên con thấy cách nào làm nhau hơn? (cách 2).+ Tổng độ dài các cạnh của hình tam giác là chu vi của hình tam giác đó.* Trong SGK toán 2, hệ thống các bài tập thực hành về yếu tố hình học cómấy dạng căn bản sau:1. Về “nhận biết hình”:α. Về “đoạn thẳng, đường thẳng”.Vấn đề “đoạn thẳng, đường thẳng” được giới thiệu ở tiểu học có thể có nhiềucách khác nhau. Trong sách toán 2, định nghĩa “đường thẳng” được giới thiệu bắt đầutừ “đoạn thẳng” (đã được học ở lớp 1) như sau:- Cho điểm ? & điểm Ɓ, lấy thước & bút nối hai điểm đó ta được đoạn thẳngAB.- Kéo dài đoạn thẳng AB về hai phía, ta được đường thẳng AB- Note: Định nghĩa đường thẳng không khái niệm được, học sinh làm quen với“biểu tượng” về đường thẳng thông qua hoạt động thực hành: Vẽ đường thẳng qua 2điểm, vẽ đường thẳng qua một điểm.ɓ. Nhận ra giao điểm giao điểm của hai đoạn thẳng:Chẳng hạn bài 4 trang 49Đoạn thẳng AB cắt đoạn thẳng CD tại điểm nào?? BA Ɓ- Khi chữa bài gia sư cho học sinh tập diễn tả kết quả bài làm. Chẳng hạnhọc sinh nêu lại “Đoạn thẳng AB cắt đoạn thẳng CD tại điểm O”.Hoặc gia sư hỏi: Có cách nào khác không? Học viên nghĩ suy giải đáp: “Haiđoạn thẳng AB và CD cắt nhau tại điểm O”. Hoặc “O là điểm cắt nhau của đườngthẳng AB và CD”.ͼ. Nhận ra 3 điêm thẳng hàng:Chẳng hạn: Bài 2 trang 73Nêu tên 3 điểm thẳng hàng (dùng thước thẳng để kiểm soát):α) ɓ)- Cô giáo giới thiệu về ba điểm thẳng hàng (ba điểm phải cùng nằm trên mộtđường thẳng).- Học viên phải dùng thước kẻ kiểm soát xem có các bộ ba điểm nào thẳng hàngrồi chữa.Chẳng hạn như:α. Ba điểm Σ, ʍ, Ռ thằng hàng; Ba điểm Σ, Ρ, Ǫ thẳng hàng.ɓ. Ba điểm Ɓ, Σ, ? thẳng hàng; Ba điểm ?, Σ, ₵ thẳng hàng.{d}. Nhận ra hình chữ nhật, hình tứ giácở lớp 2, chưa yêu cầu học sinh nắm được định nghĩa, khái niệm hình học dựatrên các đặc tính, quan hệ các ty của hình (ví dụ, chưa yêu cầu học sinh biết hìnhchữ nhật là tứ giác có 4 góc vuông, hoặc có 2 cạnh đối mặt bằng nhau …), chỉ yêu cầuhọc sinh phân biệt được hình ở dạng “tổng thể”, phân biệt được hình này với hình thứckhác & gọi đúng tên hình của nó. Bước đầu vẽ được hình đó bằng cách nối các điểmhoặc vẽ dựa theo các đường kẻ ô vuông (giấy kẻ ô ly)…Chẳng hạn dạy học bài “Hình chữ nhật” theo yêu cầu trên, có thể như sau:Ρ Ǫ- Giới thiệu hình chữ nhật (học sin được xem xét vật chất có dạng hình chữnhật, là các miếng bìa hoặc nhựa trong hộp vật dụng học tập, để nhận ra dạng tổngthể “đây là hình chữ nhật”).- Vẽ & ghi tên hình chữ nhật (nối 4 điểm trên giấy kẻ ô vuông để được hình chữnhật, ví dụ hình chữ nhật ABCH, hình chữ nhật MNPQ).? BD CQ Ρ- Nhận ra được hình chữ nhật trong tập hợp một số hình (có cả hình khôngphải là hình chữ nhật), ví dụ:Tô màu (hoặc đánh dấu Ҳ ) vào hình chữ nhật có trong mỗi hình sau:- Thực hành củng cố nhận biêt hình chữ nhật:ʍ NVí dụ: Bài 1 trang 85:Mỗi hình dưới đây là hình gì?α){d})ɓ)e)ͼ)ɢ)e. Nhận ra đường gấp khúc:Cô giáo cho học sinh xem xét đường gấpkhúc ABCD.Đường gấp khúc ABCD gồm 3 đoạnthẳng: AB, BC & CD .Độ dài đường gấp khúc ABCD là tổng độdài các đoạnĐường gấp khúc ABCDGiáo viên giới thiệu:Đây là đương gấp khúc ABCD (chỉ vào hình vẽ). Học viên lần lượt nhắc nhở lại:“Đường gấp khúc ABCD”.Cô giáo hỏi: Đường gấp khúc này gồm mấy đoạn? Học viên nêu: Gồm 3 đoạnthẳng AB, BC, CD (Ɓ là điểm giống nhau của hai đoạn thẳng AB & BC, ₵ là điểm chungcủa hai đoạn thẳng BC & CD).Học viên được thực hành ở tiếp bài tập 3 (trang 104).Ghi tên các đường gấp khúc có trong hình vẽ sau, biết:2cm4 m3 ɱ

Xem Thêm  Cấu trúc quyết định SQL IF EXISTS: Giải thích với các ví dụ - sql chọn nếu tồn tại

Viết một bình luận