Giao tiếp là gì? Vai trò của giao tiếp trong xã hội, Phân loại giao tiếp, Các yếu tố cấu thành hoạt động giao tiếp và tuyệt kỹ để giao tiếp đạt hiệu quả tốt nhất

Bạn đang xem: cách giao tiếp với bạn bè

Giao tiếp là gì? Vai trò của giao tiếp trong xã hội, Phân loại giao tiếp. Các yếu tố cấu thành hoạt động giao tiếp và tuyệt kỹ để giao tiếp đạt hiệu quả tốt nhất.

Bạn đang xem: Cách giao tiếp với bạn thân

1. Vai trò của giao tiếp

Hằng ngày tất cả chúng ta phải giao tiếp với bạn thân, người thân, đồng nghiệp trong những hoàn cảnh và tình huống rất khác nhau, vì những mục đích cũng rất khác nhau (trao đổi thông tin, khắc phục vấn đề, thuyết phục họ ) Trong quá trình giao tiếp này một lời nói, một cử chỉ có thể tạo ra một ấn tượng tốt đẹp, một sự tin cậy, một xúc cảm tích cực, cũng có thể làm mất lòng nhau, làm tổn hại đến sức khoẻ và khả năng hoạt động của nhân loại. Ông bà ta thương nói: học ăn, học nói, học gói, học mở, nghĩa là phải học những điều thật cơ bản trong cuộc sống, mà ta tưởng là đơn giản và đơn giản. Đã bao lần tất cả chúng ta tự hỏi mình: Ta ăn như vậy có đúng không? Ta nói như vậy đã được chưa? Ta có biết lắng nghe người khác nói hay không? Học phương thức giao tiếp chính là một trong những môn học để làm người, mà ai ai cũng phải học, học mãi đến khi nằm xuống kết thúc một đời người.

Trong tâm lý học, giao tiếp là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn rất lớn, bởi vì giao tiếp đóng vai trò rất trọng yếu trong việc tạo dựng và phát triển tư cách của nhân loại. Đồng thời giao tiếp đang là phương tiện trổ tài tư cách. Tâm lý của nhân loại được tạo dựng và phát triển trong giao tiếp với những người xung quanh.

Ngoài ra hoạt động giao tiếp đang là mặt trọng yếu, là điều kiện để thực hiện tốt các hoạt động khác, thậm chí cả trong trường hợp, khi mà ý nghĩa của hoạt động không phải là giao tiếp, mà là lĩnh hội và tiếp thụ tri thức, bán hàng, quản lý, ký phối hợp đồng, kinh doanh Giao tiếp chính là một dụng cụ sắc bén để tạo ra các mối quan hệ trong quản lý, trong kinh doanh và để tạo ra hạnh phúc trong nhà.

Trong quản lý, nếu người lãnh đạo có tuyệt kỹ giao tiếp tốt sẽ đoàn kết được các đồng nghiệp, tạo ra được một bầu không khí tâm lý thuận tiện trong tổ chức, tạo ra được các mối quan hệ thân thiện, thân mật giữa cấp trên với cấp dưới, trên nền tảng đó có thể thúc đẩy mạnh tới từng cá nhân trong tổ chức, nâng cao uy tín của mình.

Tóm lại, giao tiếp là điều trọng yếu so với bất kì mối quan hệ nào trong xã hội. Hoạt động giao tiếp cho phép tất cả chúng ta phát triển xã hội văn minh, truyền tri thức từ thế hệ này sang thế hệ khác. Quá trình giao tiếp hữu hiệu rất trọng yếu so với sự thành công và mãn nguyện của tất cả chúng ta.

Người Việt Nam rất coi trọng giao tiếp.

Sự giao tiếp tạo ra quan hệ: Dao năng liếc thì sắc, người năng chào thì quen.Sự giao tiếp củng cố ý thân: áo năng may năng mới, người năng tới năng thân.Năng lực giao tiếp được người Việt Nam xem là tiêu chuẩn hàng đầu để nhận xét nhân loại: Vàng thì thử lửa, thử than Chuông kêu thử tiếng, người ngoan thử lời.

Sự giao tiếp tạo ra quan hệ:Sự giao tiếp củng cố ý thân:Năng lực giao tiếp được người Việt Nam xem là tiêu chuẩn hàng đầu để nhận xét nhân loại:

2. Khái niệm giao tiếp

Hiện tại vẫn chưa cho có sự thống nhất cao trong các nhà phân tích khi bàn về giao tiếp, tuy nhiên, hiểu tổng quan có thể nêu lên một khái niệm về giao tiếp như sau:

Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa người và người thông qua từ ngữ, cử chỉ, điệu bộ. Giao tiếp là sự xác lập và vận hành các mối quan hệ giữa người và người, hoặc giữa người và các yếu tố xã hội nhằm thảo mãn những nhu cầu nhất định.

Giao tiếp bao gồm hàng loạt yếu tố, như trao đổi thông tin, xây dựng kế hoạch hoạt động phối hợp, tri giác và tìm hiểu người khác. Tương ứng với các yếu tố trên thì giao tiếp có 3 khía cạnh chính: giao lưu, thúc đẩy qua lại và tri giác.

Khía cạnh giao lưu của giao tiếp nối liền với việc tìm hiểu những đặc tính đặc trưng của quá trình trao đổi thông tin giữa hai bên giao tiếp với nhau có tính đến cả mục đích, tâm thế và ý định của nhau. Quá trình giao lưu sẽ làm giàu thêm về tri thức, kinh nghiệm của những người tham gia giao tiếp.

Một khía cạnh trọng yếu khác của giao tiếp này là thúc đẩy qua lại giữa hai bên. Trong trường hợp này, từ ngữ thống nhất và cùng hiểu biết về tình huống, hoàn cảnh giao tiếp là điều kiện thiết yếu đảm bảo sự thúc đẩy qua lại đạt hiệu quả. Có nhiều kiểu thúc đẩy qua lại lẫn nhau, trước hết này là sự hợp tác và sự đối đầu, tương ứng ứng với chúng là sự tán thành hay sự xung đột.

Khía cạnh tri giác của giao tiếp bao hàm quá trình tạo dựng hình ảnh về người khác, xác nhận được các phẩm chất tâm lý và đặc tính hành vi của người đó (thông qua các dấu hiệu bên ngoài). Trong lúc tri giác người khác cần lưu ý tới các hiện tượng như: ấn tượng ban đầu, hiệu ứng cái mới, sự điển hình hóa

3. Tính năng của giao tiếp

Giao tiếp có nhiều công dụng. Có thể chia các tính năng của giao tiếp ra làm hai nhóm: các tính năng thuần túy xã hội và các tính năng tâm lí xã hội.

Các tính năng thuần túy xã hội là các tính năng giao tiếp phục vụ các nhu cầu chung của xã hội hay của một nhóm người. Ví dụ, khi bộ đội kéo pháo, họ cùng hô lên với nhau: hò dô ta nào để điều khiển, thống nhất cùng hành động để tăng thêm sức mạnh của lực kéo. Như vậy, giao tiếp có tính năng tổ chức, điều khiển, phối hợp hoạt động lao động tập thể. Giao tiếp còn tồn tại tính năng thông tin, muốn quản lí một xã hội phải có thông tin hai chiều, từ trên xuống, từ dưới lên và cả thông tin giữa các nhóm, tập thể

Các tính năng tâm lí xã hội của giao tiếp là các tính năng phục vụ nhu cầu của từng thành viên trong xã hội. Loài người mang tính chất là luôn có giao tiếp với người khác. Cô quạnh là một trạng thái tâm lí nặng nề. Bị cô lập với cộng đồng, bạn thân, người thâncó thể nảy sinh trạng thái tâm lí không bình thường, nhiều khi dẫn tới tình trạng bệnh lí. Tính năng này của giao tiếp gọi là tính năng nối mạch (tiếp xúc) với người khác. Nối được mạch với nhóm rồi, nhân loại có quan hệ với các người khác trong nhóm cùng với các thành viên khác trong nhóm tạo ra các quan hệ nhóm: có hứng thú chung, mục đích chung, có nhu cầu gắn bó với nhau 𝒱.𝒱 làm cho các quan hệ này trở thành các quan hệ thực, đảm bảo sự tồn tại thực của nhóm.

Như vậy, giao tiếp giúp cho nhân loại thực hiện các quan hệ liên tư cách. Nghĩa là mỗi thành viên hòa nhịp vào nhóm, coi nhóm là mình, mình là nhóm. Nhóm ở đây hiểu theo nghĩa rộng, từ hai người đến một cộng đồng lớn. Tính năng hòa nhịp thường hay gọi là tính năng đồng nhất qua giao tiếp thành viên đồng nhất với nhóm, đồng ý và tuân thủ các chuẩn mực nhóm kéo theo sự thống nhất nhiều mặt trong nhóm. Nhưng sự vận động của nhóm có thể dẫn tới chỗ một thành viên nào đó tách khỏi nhóm. Đến lúc đó tính năng đồng nhất chuyển thành tính năng đối lập: thành viên này đối lập lại với nhóm vì khác biệt về hứng thú, mục đích, động cơ 𝒱.𝒱 Đương nhiên thành viên này sẽ có thể và phải tham gia vào những mối quan hệ ở nhóm khác. Giao tiếp nhóm là loại giao tiếp rất thông dụng trong tất cả chúng ta và có vai trò to lớn so với việc tạo dựng và phát triển tâm lí, nhất là với các em học viên. Cần phân biệt giao tiếp nhóm chính thức và giao tiếp nhóm không chính thức. Nhóm chính thức là nhóm được thành lập theo một quy định chung nào đó. Nhóm không chính thức là nhóm do các thành viên tự tập hợp thành nhóm.

Xem Thêm  Bạn biết gì về sốc văn hóa là gì, sốc văn hóa là gì - culture shock là gì

4. Phân loại giao tiếp

Có nhiều cách phân loại giao tiếp theo những căn cứ khác nhau:

1. Dựa vào nội dung tâm lý của giao tiếp, người ta phân ra:

Giao tiếp nhằm thông báo những thông tin mới.Giao tiếp nhằm thay đổi hệ thống động cơ và giá trị.Giao tiếp nhằm khích lệ, kích thích hành động.

Giao tiếp nhằm thông báo những thông tin mới.Giao tiếp nhằm thay đổi hệ thống động cơ và giá trị.Giao tiếp nhằm khích lệ, kích thích hành động.

2. Dựa vào đối tượng hoạt động giao tiếp, người ta chia ra:

Giao tiếp liên tư cách (giữa 2 3 người với nhau).Giao tiếp xã hội: là giao tiếp giữa một người với một nhóm người (như lớp học, hội nghị)Giao tiếp nhóm: đây là loại hình giao tiếp đặc trưng cho một tập thể nhỏ link với nhau bởi hoạt động chung và nó phục vụ cho hoạt động này.

Giao tiếp liên tư cách (giữa 2 3 người với nhau).Giao tiếp xã hội: là giao tiếp giữa một người với một nhóm người (như lớp học, hội nghị)Giao tiếp nhóm: đây là loại hình giao tiếp đặc trưng cho một tập thể nhỏ link với nhau bởi hoạt động chung và nó phục vụ cho hoạt động này.

3. Dựa vào tính chất tiếp xúc, ta có thể chia ra làm 2 loại:

Giao tiếp trực tiếp: là loại hình giao tiếp thông dụng nhất trong mọi hoạt động của nhân loại, trong đó các đối tượng của giao tiếp trực tiếp gặp mặt nhau và thường dùng từ ngữ nói và biểu cảm để truyền cho nhau những ý nghĩ và tình cảm của mình.Giao tiếp gián tiếp: là hình thức thông qua một phương tiện trung gian khác như thư từ, sách báo, smartphone

Giao tiếp trực tiếp: là loại hình giao tiếp thông dụng nhất trong mọi hoạt động của nhân loại, trong đó các đối tượng của giao tiếp trực tiếp gặp mặt nhau và thường dùng từ ngữ nói và biểu cảm để truyền cho nhau những ý nghĩ và tình cảm của mình.Giao tiếp gián tiếp: là hình thức thông qua một phương tiện trung gian khác như thư từ, sách báo, smartphone

4. Dựa vào hình thức của giao tiếp, tất cả chúng ta có:

Giao tiếp chính thức là loại giao tiếp diễn ra khi cá nhân cùng thực hiện một nhiệm vụ chung theo quy định như: làm việc ở đơn vị, trường học Giao tiếp chính thức là giao tiếp giữa hai người hay một số người đang thực hiện một chức trách nhất định. Vì vậy thường hay gọi là giao tiếp chức trách. Phương tiện, phương thức của loại giao tiếp này thường tuân theo những quy ước nhất định, có khi được quy định hẳn hoi, thậm chí được thể chế hóa.Giao tiếp không chính thức là giao tiếp giữa những người đã có quen biết, không lưu ý đến thể thức mà hầu hết sử dụng ý riêng của những người tham gia giao tiếp. Đây thường hay gọi là giao tiếp ý. Nói rõ ràng hơn, hai người trò chuyện thân mật với nhau, khi họ đã hiểu ý đồ của nhau, biết mục đích, động cơ của nhau. Này là những mẩu chuyện riêng tư. Họ không chỉ thông báo cho nhau một thông tin gì đó, mà muốn cùng nhau chia sẻ thái độ, lập trường so với thông tin đó. Mục đích của giao tiếp loại này là để thấu hiểu, chia ngọt sẻ bùi với nhau.

Giao tiếp chính thức là loại giao tiếp diễn ra khi cá nhân cùng thực hiện một nhiệm vụ chung theo quy định như: làm việc ở đơn vị, trường học Giao tiếp chính thức là giao tiếp giữa hai người hay một số người đang thực hiện một chức trách nhất định. Vì vậy thường hay gọi là giao tiếp chức trách. Phương tiện, phương thức của loại giao tiếp này thường tuân theo những quy ước nhất định, có khi được quy định hẳn hoi, thậm chí được thể chế hóa.Giao tiếp không chính thức là giao tiếp giữa những người đã có quen biết, không lưu ý đến thể thức mà hầu hết sử dụng ý riêng của những người tham gia giao tiếp. Đây thường hay gọi là giao tiếp ý. Nói rõ ràng hơn, hai người trò chuyện thân mật với nhau, khi họ đã hiểu ý đồ của nhau, biết mục đích, động cơ của nhau. Này là những mẩu chuyện riêng tư. Họ không chỉ thông báo cho nhau một thông tin gì đó, mà muốn cùng nhau chia sẻ thái độ, lập trường so với thông tin đó. Mục đích của giao tiếp loại này là để thấu hiểu, chia ngọt sẻ bùi với nhau.

5. Dựa vào thế tâm lý giữa hai bên trong giao tiếp, tất cả chúng ta có thể chia giao tiếp ra thành 3 kiểu: giao tiếp ở thế mạnh, giao tiếp ở thế yếu và giao tiếp ở thế thăng bằng. Thế tâm lý tức là vị trí tâm lý giữa hai người trong quan hệ giao tiếp, nó nói lên ai mạnh hơn ai về mặt tâm lý. Thế tâm lý của một người so với một người khác chi phối những hành vi trong giao tiếp của họ. Ví dụ, khi tất cả chúng ta giao tiếp với bạn thân trong lớp (là ở thế thăng bằng) sẽ có những hành vi, cử chỉ, tư thế khác so với khi tất cả chúng ta giao tiếp với một người giám đốc trong cuộc phỏng vấn xin việc làm (khi mà tất cả chúng ta ở thế yếu).

6. Căn cứ vào phương tiện giao tiếp ta có ba loại: giao tiếp vật chất, giao tiếp từ ngữ và giao tiếp tín hiệu.

Giao tiếp vật chất diễn ra khi người ta giao tiếp với nhau bằng hành động với vật thể. Giao tiếp vật chất khởi đầu có ở trẻ cuối một tuổi, đầy hai tuổi, khi trẻ cùng chơi với đồ chơi hay một vật thể nào đó với người lớn. Các hành động thực hiện ở trẻ em thuộc lứa tuổi đó có tính năng vận động biểu cảm, như để tỏ ý muốn với lấy đồ vật hay bò về phía đồ chơi 𝒱.𝒱

Dần dần cùng với sự phát triển của xã hội, cũng như sự phát triển của lứa tuổi, giao tiếp trở nên phức tạp hơn, khởi đầu có các phương tiện đặc trưng của giao tiếp, trước hết là từ ngữ. Giao tiếp từ ngữ xuất hiện như là một dạng hoạt động xác lập và vận hành quan hệ người người bằng các tín hiệu từ ngữ. Các tín hiệu này là các tín hiệu chung cho một cộng đồng cùng nói một thứ tiếng mỗi tín hiệu (một từ ví dụ) gắn với vật thể hay một hiện tượng, phản ánh một nội dung nhất định Này là nghĩa của từ. Nghĩa này chung cho cả cộng đồng người nói ngôn từ đó. Trong mỗi trường hợp rõ ràng, một người hay một nhóm người rõ ràng lại có thể có một mối quan hệ riêng so với từ đó. Thông qua hoạt động riêng của người hay nhóm người này mà có ý riêng so với từng người. So với mỗi người một từ có nghĩa và ý; ý của từ phản ánh động cơ và mục đích hoạt động của từng người hoặc nhóm người. Nghĩa của từ phát triển theo sự phát triển của xã hội (của cộng đồng người nói từ ngữ đó). ở từng người, nghĩa của từ phát triển tương ứng với trình độ học vấn của người ấy ý cùng với nghĩa của từ phản ánh vốn sống nói chung, phản ánh mức độ phát triển tư cách của người ấy.

Xem Thêm  Lời chứng thực là gì? Tìm hiểu vị trí và cách sử dụng chúng - ý nghĩa chứng thực

Xem thêm: Vợ Chồng Em Rất Thích Public Nơi Đông Người, Chụp Thể Loại Này Kích Thích Lắm Các Bác Ạ

Giao tiếp tín hiệu: Ngôn từ là một loại tín hiệu nên chính giao tiếp từ ngữ là một loại giao tiếp tín hiệu. Ngoài ra người ta còn dùng các loại tín hiệu khác để giao tiếp, như cách ăn mặc, cử chỉ, nét mặt ở đây giao tiếp có một nội dung và hình thức khác phát triển, rất ăn ý với nhau theo những tín hiệu mà người ta đã thống nhất ý và nghĩa của các tín hiệu đó. Có tình huống giao tiếp tín hiệu còn hiệu quả hơn hết giao tiếp từ ngữ. Khi hai người ăn ý với nhau thì có khi từ ngữ trở nên thừa. Dân gian phương Tây còn nói: Lặng im là vàng bạc, lặng im là tán thành. Lặng im đáng quý và để hiểu ý nhau.

5. Các yếu tố cấu thành của hoạt động giao tiếp

Trong quá trình giao tiếp xã hội không có sự phân cực giữa bên phát và bên nhận thông tin, cả hai đều là chủ thể tích cực, luôn đổi vai cho nhau. Các chủ thể giao tiếp là những tư cách đã được xã hội hóa, do vậy các hệ thống tín hiệu thông tin được họ sử dụng chịu sự chi phối của các qui tắc chuẩn mực xã hội trong một khung cảnh văn hóa xã hội thống nhất. Đồng thời, mỗi cá nhân là một bản sắc tâm lý với những khả năng sinh học và mức độ trưởng thành về mặt xã hội khác nhau. Như vậy, giao tiếp có một cấu trúc kép, nghĩa là giao tiếp chịu sự chi phối của động cơ, mục đích và điều kiện giao tiếp của cả hai bên có thể mô tả như sau:

Cấu trúc kép trong giao tiếp

Động cơ của S1 > Hoạt động giao tiếp Mục đích của S1 > Hành động giao tiếp Điều kiện của S1 > Thao tác giao tiếp

Động cơ của S1 > Hoạt động giao tiếp Mục đích của S1 > Hành động giao tiếp Điều kiện của S1 > Thao tác giao tiếp

Trong quá trình giao tiếp hai người luôn tự nhận thức về mình, đồng thời họ cũng nhận xét, nhận xét về phía bên kia. Hai bên luôn thúc đẩy và tác động lẫn nhau trong giao tiếp và có thể mô hình hóa như sau:

Khi 𝓐 và Ɓ giao tiếp với nhau, 𝓐 trò chuyện với tư cách 𝓐 nhắm tới Ɓ, Ɓ trò chuyện với tư cách Ɓ nhắm tới 𝓐; trong lúc đó, 𝓐 và Ɓ đều không biết có sự khác nhau giữa 𝓐, Ɓ, 𝓐, Ɓ với hiện thực khách quan của 𝓐 và Ɓ; 𝓐 và Ɓ không hề biết về 𝓐, Ɓ hay nói cách khác là không hay biết về về sự nhận xét nhận xét của bên kia về mình. Hiệu quả của giao tiếp sẽ đạt được tối đa trong điều kiện có sự khác biệt tối thiểu giữa 𝓐-𝓐-𝓐 và Ɓ-Ɓ-Ɓ.

5. Nguyên nhân của giao tiếp thất bại

Như đã trình bày ở các phần trên, quá trình giao tiếp diễn ra có hiệu quả hay không là do người phát và người nhận thông tin có có chung hệ thống mã hóa và giải mã hay không. Những khác biệt về từ ngữ, về ý kiến, về định hướng giá trị làm cho quá trình giao tiếp bị ách tắc, hiểu nhầm gây tranh chấp giữa các bên.

Nhận thức của các bên tham gia giao tiếp là yếu tố gây tác động trực tiếp và mạnh nhất đến hoạt động giao tiếp.

Trạng thái xúc cảm của người giao tiếp, niềm tin và ý kiến sống của người tham gia giao tiếp sẽ quyết định thông tin nào được chọn lọc tiếp nhận hoặc bị bóp méo.

*

Hoàn cảnh xảy ra giao tiếp cũng gây tác động mạnh đến quá trình giao tiếp, những sóng nhiễu như tiếng ồn, sự buôn dưa lê của số động, thời tiết, khí hậu đều ít nhiều có gây tác động đến giao tiếp.

6. Tuyệt kỹ giao tiếp hiệu quả

Tuyệt kỹ giao tiếp là khả năng nhận thấy nhanh lẹ những dấu hiệu bên ngoài và đoán biết tình tiết tâm lý bên trong của nhân loại (với tư cách là đối tượng giao tiếp đồng thời biết sử dụng phương tiện từ ngữ và phi từ ngữ, biết cách định hướng để điều khiển quá trình giao tiếp đạt tới một mục đích đã định.

6.1. Tuyệt kỹ định hướng

Tuyệt kỹ định hướng trổ tài khả năng dựa vào tri giác ban đầu về các dấu hiệu ở khả năng dựa vào tri giác về các dấu hiệu bên ngoài (hình thức, động tác, cử chỉ, từ ngữ, điệu bộ và các sắc thái biểu cảm) trong thời gian và không gian giao tiếp từ đó đoán biết một cách tương đối đúng đắn các tình tiết tâm lý đang diễn ra trong đối tượng để định hướng một cách hợp lý cho mối quan hệ tiếp theo. Rõ ràng và cụ thể là khả năng nắm bắt, xác nhận được động cơ nhu cầu, mục đích sở thích của đối tượng giao tiếp.

Tập luyện tuyệt kỹ định hướng nghĩa là rèn khả năng qui gán trong tri giác xã hội.

Tri giác xã hội là sự cảm nhận, hiểu biết của chủ thể tri giác về các đối tượng xã hội như bản thân, người khác, nhóm xã hội, cộng đồng. Sự nhận thấy này phụ thuộc đối tượng tri giác, kinh nghiệm, mục đích, nguyện vọng của chủ thể tri giác, giá trị và ý nghĩa trọng yếu của hoàn cảnh. Như vậy tri giác xã hội hay tri giác người khác nghĩa là thông qua các dấu hiệu hành vi bên ngoài, kết phù hợp với các đặc tính tư cách của người đó để hiểu được mục đích và phương hướng hành động của họ. Tri giác xã hội chínhlà quá trình nhận thức được đối tượng giao tiếp bằng đoạn đường cảm tính chủ quan, theo kinh nghiệm.

Qui gán xã hội là cách mà nhân loại hay dùng để nhận định người khác. Đây là một quá trình suy diễn nhân quả hiểu hành động của người khác bằng cách tìm những nguyên nhân ổn định để giải thích cho hành động hay thay đổi tách biệt.

Trong quá trình giao tiếp, một người tinh tường, nhạy cảm thường hay nắm bắt được những hàm ý của người nói, hiểu được người đó muốn gì sau những lời lẽ xa xôi, dông dài.

Qui gán mang tính chủ quan nên không tránh khỏi những sai sót. Tuy nhiên có thể giảm bớt sai sót khi qui gán nếu nắm chắc các phép tắc qui gán.

Phép tắc qui gán:

α. Tâm lý ngây thơ: là hiện tượng tâm lý ai trong tất cả chúng ta cũng vướng, này là hiện tượng tất cả chúng ta luôn muốn kiểm tra những thay đổi và biến động ở môi trường xung quanh với muốn sẽ kiểm tra được các sự kiện và môi trường xung quanh.

ɓ. Suy diễn tương ứng: nhân loại thường suy diễn tương ứng với những gì họ thấy. Ví dụ, thấy một người đi xe ra khỏi quán nhậu bị ngã xe người ta sẽ cho rằng do nhậu xỉn nên ngã.

Để suy diễn được đúng đắn tất cả chúng ta cần:

Phải có nhiều thông tin về đối tượng và nếu có chuỗi hành vi với những điểm không thống nhất thì sẽ dễ suy diễn hơn. Như vậy để suy diễn đúng đắn tất cả chúng ta càng có nhiều thông tin về đối tượng càng tốt, có thể chủ động để tìm hiểu thông tin và phát xuất hiện những điểm không thống nhất trong thông tin của đối tượng.Hành vi được xã hội mong đợi thì khó suy diễn hơn hành vi không được xã hội mong đợi. Như vậy cần tìm hiểu chuẩn mực, nề nếp trong môi trường mà người đó sống.Hành vi được tự do lựa chọn dễ suy diễn hơn hành vi không được tự do lựa chọn. Như vậy cần phải nắm được mức độ tự do của họ khi ra quyết định. Cần tìm hiểu xem họ có stress nào không, có bị ai đó dọa dẫm, bắt ép không.

Xem Thêm  Top 10 kết quả tìm kiếm game aoe là gì mới nhất 2022

Phải có nhiều thông tin về đối tượng và nếu có chuỗi hành vi với những điểm không thống nhất thì sẽ dễ suy diễn hơn. Như vậy để suy diễn đúng đắn tất cả chúng ta càng có nhiều thông tin về đối tượng càng tốt, có thể chủ động để tìm hiểu thông tin và phát xuất hiện những điểm không thống nhất trong thông tin của đối tượng.Hành vi được xã hội mong đợi thì khó suy diễn hơn hành vi không được xã hội mong đợi. Như vậy cần tìm hiểu chuẩn mực, nề nếp trong môi trường mà người đó sống.Hành vi được tự do lựa chọn dễ suy diễn hơn hành vi không được tự do lựa chọn. Như vậy cần phải nắm được mức độ tự do của họ khi ra quyết định. Cần tìm hiểu xem họ có stress nào không, có bị ai đó dọa dẫm, bắt ép không.

¢. Suy diễn đồng biến: là suy diễn thường cho nguyên nhân và kết quả đi kèm với nhau, nhân nào-quả ấy. Khi suy diễn nguyên nhân của kết quả và của hành động tất cả chúng ta thường suy diễn ở ba khâu: do chủ thể, do đối tượng, do hoàn cảnh.

Khi suy diễn về nguyên nhân của kết quả thường người ta qui gán như sau:

Nếu là kết quả của chính bản thân mình: kết quả này mà tốt thì cho rằng do bản thân; nếu kết quả đó xấu mà có nhiều người cũng bị xấu thì cho rằng do đối tượng (công việc mình làm), nếu chỉ có kết quả của mình bị xấu thì thường đổ cho hoàn cảnh.Nếu kết quả của người khác: kết quả này mà tốt và những người khác cũng có kết quả tốt tương tự thì cho rằng do đối tượng (công việc,..); nếu chỉ mình đối tượng có kết quả tốt thì cho rằng do hoàn cảnh (may mắn,); nếu kết quả mà xấu thì thường cho ngay là do chủ thể.

Nếu là kết quả của chính bản thân mình: kết quả này mà tốt thì cho rằng do bản thân; nếu kết quả đó xấu mà có nhiều người cũng bị xấu thì cho rằng do đối tượng (công việc mình làm), nếu chỉ có kết quả của mình bị xấu thì thường đổ cho hoàn cảnh.Nếu kết quả của người khác: kết quả này mà tốt và những người khác cũng có kết quả tốt tương tự thì cho rằng do đối tượng (công việc,..); nếu chỉ mình đối tượng có kết quả tốt thì cho rằng do hoàn cảnh (may mắn,); nếu kết quả mà xấu thì thường cho ngay là do chủ thể.

Khi suy diễn về nguyên nhân của hành động: nếu là hành động của chính bản thân mình thì cho rằng do đối tượng, do hoàn cảnh; nếu là hành động của người khác thì cho rằng do chủ thể.

Để hiểu đúng người khác, làm họ thấy được thông cảm và chia sẻ thì tất cả chúng ta cần đứng sang phía của họ để nhìn nhận vấn đề theo cách nhìn của họ.

Trong giao tiếp để hiểu người khác tất cả chúng ta luôn phải dùng đến khả năng tri giác xã hội. Tuy nhiên, để hiểu, nhận định và nhận xét sự giao tiếp của một người nào đó so với ta là lịch sự hay không, có đúng phép tắc xã giao không là việc không khó, nhưng để hiểu, nhận định và nhận xét bản chất bên trong của người đó như có chân tình hay không thì không phải là dễ. Như vậy vấn đề là phải tìm cách nâng cao khả năng nhận thấy nhân loại để có thể ứng xử thích thống nhất trong mỗi hoàn cảnh rõ ràng.

6.2. Tuyệt kỹ định vị

Tuyệt kỹ định vị là khả năng xác nhận đúng vị trí giao tiếp để từ đó tạo điều kiện cho đối tượng chủ động trong cuộc giao tiếp (xác nhận đúng ai đóng vai gì)

Ví dụ: 𝓐 = Ɓ (Hai người có thông tin ngang nhau)

𝓐 > Ɓ (𝓐 có nhiều thông tin hơn Ɓ)

𝓐 Ɓ: Giọng 𝓐 kẻ cả, bề trên, hay nói trống không, hay mệnh lệnh; Còn Ɓ thì khép nép, pha chút e ngại, thụ động.

Thể loại:

Thể loại: Tri thức thú vị


Xem thêm những thông tin liên quan đến đề tài cách giao tiếp với bạn thân

Cách Nói Chuyện Hài Hước | Kỹ Năng Giao Tiếp Xuất Sắc

alt

  • Tác giả: Web5Ngay
  • Ngày đăng: 2020-08-15
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 4545 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: 🟡 Trở thành fanVIP: https://www.youtube.com/channel/UCkgjUHB8sdWbmdp39swMrTg/join
    – Đăng ký theo dõi kênh: http://popsww.com/Web5Ngay

    – Các video hay nhất của Web5ngay: https://w5n.co/best

    – Radio chính thức của web5ngay: https://tamsukinhdoanh.com

    – Group chính thức của Web5ngay: https://w5n.co/fb

    web5ngay kynang kinhdoanh baihockinhdoanh bhth

Cách giao tiếp với bạn thân

  • Tác giả: webcasinovn.com
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 2299 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Maxin GorKi đã từng viết: “Người bạn tốt nhất bao giờ cũng là người bạn đến với ta trong những lúc khó khăn, cay đắng nhất của cuộc đời”, Vậy, tình bạn là gì? Cách ứng xử với bạn thân như vậy nào cho thích hợp? Hãy cùng bdkhtravinh

Giao tiếp tiếng Anh cho người đi làm bài 20: Thăm hỏi bạn thân

  • Tác giả: topicanative.edu.vn
  • Nhận xét: 3 ⭐ ( 3976 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Hỏi thăm bạn thân là một trong những tình huống thường gặp nhất trong giao tiếp hằng ngày. Vậy cách hỏi thăm bẹn bè bằng tiếng Anh cho người đi làm là gì?

Cách Giao Tiếp Với Bạn Bè Để Có Một Tình Bạn Mãi Mãi Bền Lâu

  • Tác giả: vumon.vn
  • Nhận xét: 3 ⭐ ( 6739 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Như tất cả chúng ta đã biết trong xã hội có nhiều mối quan hệ, giao tiếp, Giao tiếp chính là sự xúc tiến sự tạo dựng và phát triển tư cách

Phương pháp để Giao tiếp, vui vẻ và kết thân

  • Tác giả: www.wikihow.vn
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 2838 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Phương pháp để Giao tiếp, vui vẻ và kết thân. Nếu bạn có tư duy đúng thì việc kết thân cũng không phải là điều khó khăn. Hầu như ai cũng thích những người vui vẻ, thân thiện và khôi hài, vì vậy điều trọng yếu là phải tỏ ra cho mọi người thấy những…

Điểm Mặt 5 Cách Giao Tiếp Với Bạn Bè Để Có Một Tình Bạn Mãi Mãi Bền Lâu

  • Tác giả: capdoihoanhao.vn
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 4223 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Sẽ không có quả cầu thủy tinh nào giúp bạn đoán trước được ai bỗng chốc trở mặt với mình vào “một ngày đẹp trời” nào đó, Hoặc vào thời điểm bỗng dưng, bạn mới hiểu rằng người bạn tốt nhất không phải là người vẫn thường ngợi ca bạn

Mẫu câu tiếng Anh trong giao tiếp bạn thân

  • Tác giả: edu2review.com
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 2611 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Giao tiếp tiếng Anh với bạn thân là một cách hiệu quả để tập luyện khả năng tiếng Anh. Nên nói tiếng Anh với bạn thân như vậy nào để thân mật và tự nhiên?

Xem thêm các nội dung khác thuộc thể loại: Thủ thuật máy tính

By ads_php