Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà thơ Xuân Diệu

Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà thơ Xuân Diệu

Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà thơ Xuân Diệu

5.0

out of

5

based on

21

votes

Bạn nhận xét: 5 / 5

Xin hãy xếp hạng

 

Cuộc đời và sự nghiệp Nhà thơ Xuân Diệu

Nhà thơ Xuân Diệu đã để lại cho đời sự nghiệp thơ ca đồ xộ, đóng góp lớn lao vào sự lớn mạnh văn học viet nam. Ông đã mang đến cho thơ ca đương thời một sức sống mới, trổ tài một quan điểm sống mới lạ cùng với những cách tân văn nghệ đầy sáng tạo.

Tóm lược lý lịch nhà thơ Xuân Diệu

Nhà thơ tình Xuân Diệu sinh ngày 2-2-1916 tại Tỉnh Bình Định. Ông sống và làm việc chủ đạo ở Tỉnh Hà Tĩnh. Xuân Diệu xếp hạng nổi tiếng thứ 79876 trên toàn cầu và thứ 3 trong mục lục Nhà thơ tình nổi tiếng.

Sau khoảng thời gian tốt nghiệp tú tài, ông đi dạy học tư và làm viên chức ở Mĩ Tho (nay là Tiền Giang), sau đó ra Hà Nội sống bằng ngành viết văn.

Năm 1943, ông tốt nghiệp cử nhân Luật và về làm tham tá thương chánh ở Mỹ Tho.

Năm 1944, Xuân Diệu gia nhập trào lưu Việt Minh, đảng viên viet nam Dân chủ Đảng, sau gia nhập Đảng Cộng sản. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông hoạt động trong Hội văn hóa cứu quốc, làm thư ký báo chí Tiền phong của Hội. Sau đó ông công tác trong Hội nghệ thuật viet nam, làm thư ký tòa soạn báo chí Nghệ thuật ở Việt Bắc.

Xuân Diệu gia nhập ban chấp hành, nhiều năm là ủy viên thường vụ Hội Nhà văn viet nam.

Sự nghiệp sáng tác của nhà thơ Xuân Diệu

Thi sĩ Xuân Diệu được mệnh danh là “Ông hoàng thơ tình”. Ông là một cây đại thụ của thơVề ngành nghề thơ ca, tất cả chúng ta có thể tìm tòi qua hai công đoạn chính, trước và sau cách mạng tháng Tám. Trước cách mạng tháng Tám, Xuân Diệu là một nhà thơ thơ mộng. Các tác phẩm chính: tập thơ “Thơ thơ” (1938) và “Gửi hương cho gió” (1945). Bài viết của thơ Xuân Diệu trong giai đoạn đó là: Niềm say mê ngoại giới, khát khao giao cảm trực tiếp, cháy bỏng, mãnh liệt với cuộc đời (“Vội vàng”, “Giục giã”). Nỗi độc thân rợn ngợp của cái tôi nhỏ bé giữa dòng thời gian vô biên, giữa không gian bất tận (Lời kỹ nữ). Nỗi ám ảnh về thời gian khiến nhà thơ nảy sinh một triết lý về nhân sinh: lẽ sống tất tả (“Vội vàng”). Nỗi khát khao đến chảy bỏng được đắm mình trọn vẹn giữa cuộc đời đầy hương sắc và trổ tài nỗi đớn đau, xót xa trước khát vọng bị bỏ quên thật phũ phàng trước cuộc đời (“Dại khờ”, “Nước đổ lá khoai”).

Nhà thơ Xuân Diệu

Sau cách mạng, thơ Xuân Diệu đã vươn tới chân mây văn nghệ mới, nhà thơ đã đi từ “cái tôi bé nhỏ đến cái ta chung của mọi người” (Ρ.Eluya). Xuân Diệu lúc này đã biến thành một nhà thơ cách mạng say mê, hăng hái hoạt động và ông đã có thơ hay ngay trong công đoạn đầu. Xuân Diệu chào mừng cách mạng với “Ngọn quốc kỳ” (1945) và “Hội nghị non sông” (1946) với tấm chân tình tràn trề hân hoan trước lẽ sống lớn, niềm vui lớn của cách mạng.

Xem Thêm  Làm cách nào để xóa khoảng trắng khỏi chuỗi bằng JavaScript? - javascript xóa khoảng trắng khỏi chuỗi

Cùng với sự cải cách của quốc gia, Xuân Diệu có nhiều biến chuyển trong tâm hồn và thơ

Ý thức của cái Tôi công dân, của một nghệ sĩ, một trí thức yêu nước trước thực tiễn cuộc đời. Quốc gia đã mang đến cho ông những nguồn mạch mới trong cảm xúc sáng tác. Nhà thơ hăng hái viết về Đảng, về Bác Hồ, về Tổ quốc viet nam, về tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội miền Bắc và tiến trình hợp nhất nước nhà. Các tác phẩm tiêu biểu: tập “Riêng chung” (1960), “Hai đợt sóng” (1967), “tập “Hồn tôi đôi cánh” (1976)…

Từ những năm sáu mươi trở đi, Xuân Diệu tiếp tục viết thơ tình. Thơ tình Xuân Diệu bây giờ không vơi cạn mà lại có những nguồn mạch, cảm xúc mới. Trước cách mạng, tình ái trong thơ ông đa phần là những cuộc tình xa cách, độc thân, chia li, rạn nứt… Nhưng sau cách mạng, tình ái của hai nhân loại ấy không đang là hai vũ trụ nhỏ bé nữa mà đã có sự hòa điệu cùng mọi người. Thiện cảm lứa đôi đã hòa quyện cùng tình ái tổ quốc. Xuân Diệu nhắc nhiều đến thiện cảm chung tình đồng hành, hạnh phúc, sum họp chứ không bơ vơ, đơn côi nữa (Dấu nằm”, “Biển”, “Giọng nói”, “Đứng chờ em”).

Về ngành nghề văn xuôi có thể nói Xuân Diệu quả thật tài tình. Bên cạnh tố chất thơ ca bẩm sinh như vậy, Xuân Diệu còn rất thành công trong ngành nghề văn xuôi. Các tác phẩm chính: “Trường ca” (1939) và “Phấn thông vàng” (1945). Các tác phẩm này được Xuân Diệu viết theo bút pháp thơ mộng nhưng thỉnh thoảng ngòi bút lại hướng sang chủ nghĩa hiện thực (“Cái hỏa lò”, “Tỏa nhị Kiều”).

Không những thế, Xuân Diệu còn rất tài tình trong việc phê bình văn học, dịch thuật thơ nước ngoài. Các tác phẩm tiêu biểu: “Kí sự thăm nước Hung”, “Triều lên”, “Các nhà thơ cổ điển Việt Nam”, “Dao có mài mới sắc”.

Tập truyện ngắn Phấn thông vàng

Dù ở phương diện nào, Xuân Diệu cũng có đóng góp rất lớn lao với sự nghiệp văn học viet nam. Vũ Ngọc Phan từng đánh giá “Xuân Diệu là người đem nhiều cái mới nhất cho thơ ca hiện đại Việt Nam”. Sự đóng góp của Xuân Diệu diễn ra điều độ và trọn vẹn trong các chuyên mục và các công đoạn lịch sử của dân tộc. Vì vậy có thể bảo rằng Xuân Diệu xứng đáng là một nhà thơ lớn, nhà văn hóa lớn.

Năm 1996, Xuân Diệu được truy tặng Giải thưởng hcm đợt Ι về văn học văn nghệ. Để sướng tên và tưởng nhớ đến Xuân Diệu, tên của ông đã được đặt cho nhiều tuyến đường và trường học ở nhiều Tp lớn của viet nam.

Thi sĩ Xuân Diệu qua đời ngày 18 tháng 12 năm 1985. Hiện tại, nhà hồi tưởng và nhà thờ của ông được xây dựng tại làng Trảo Nha, thị xã Nghèn, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.

Xem Thêm  Cách tốt nhất để tạo nút HTML của bạn: Dễ dàng thêm liên kết nút HTML - làm thế nào để tạo một nút

Các tác phẩm (bài thơ) nổi tiếng của nhà thơ Xuân Diệu

Anh đã giết em7
Anh là người tệ bạc
Anh thương em khi ngủ
Anh về Ấm Thượng…
Bác đi xa cháu, nhớ ghê
Bến thần tiên
Biết tạc đâu ra em của anh?
Buổi tiệc đôi ta sáng nước mây
Pho tượng
Cây đời mãi mãi xanh tươi
Chén nước
Có em
Cói
Cứ phải là em
Dấu nằm1
Dỗi
Đa tình 4
Bầy
Đánh đau em…
Đêm trăng đường Láng
Đời anh, em đã đi ngang qua…
Đứa con của tình ái
Đứng chờ em3
Em đi
Em đi tuyến lửa
Em đọc lại thơ…
Em làm bếp
Gặp mặt (II)
Giọng nói
Hoa “anh ơi”
Hoa đêm
Hoa ngọc trâm
Hôn
Hôn cái nhìn
Hy Mã Lạp Sơn1
Khác mộng
Không đề
Khúc hát tình ái và quốc gia
Khung cửa sổ

Kỷ niệm (II)
Lạ
Mặt em
Nằm đêm anh cứ thương em
Nhớ nhỏ đôi tay
Nhớ Vĩnh Kim
Những đêm hành quân
Nói tào lao
Ở ngoài vạn lý
Phan Hành Sơn
Chần chừ
Phượng mười năm
Quạt
Rừng mơ tuổi thơ
Sự sống chẳng khi nào buồn rầu
Thác
Thăm Pác-bó2
Thân em
Thơ
Thơ bát cú
Thơ duyên 5
Tình mai sau
Trách em
Con tim em thức đập
Trăm ba mươi đoá
Trăng khuya trên Hắc Hải
Trăng sáng
Trùng điệp giấc mơ
Tứ tuyệt tương tư
Vấn vương1
Vội gì vội…
Vợ chuẩn bị hành trang cho chồng vào hoả tuyến
Xuân không mùa2
Thơ thơ (1938)
Xúc cảm
Nụ cười xuân
“Vì sao”13
Nguyên đán
Trăng
Huyền diệu
Gặp mặt (Ι)
Yêu
Xa cách6
Phải nói1
Tình trai2
Nhị hồ
Đi thuyền
Thời gian
Đây mùa thu tới 13
Ý thu
Hẹn hò
Chàng sầu1
Lạc quan
Bài thơ tuổi nhỏ
Mùa thi
Vô biên1
Vội vã 44
Có những bài thơ
Tiếng không lời (Mây lưng chừng hàng)

Bình dị
Giờ tàn
Chiều 1
Viễn khách
Biệt ly êm ái
Tương tư chiều 4
Với bàn tay ấy…
Giới thiệu
Bên ấy bên này
Cặp hài vạn dặm
Tiếng gió
Hoa nở để mà tàn
Muộn màng
Thở than
Chiếc lá
Sắt
Gửi trời
Ca tụng1
Mười chữ
Núi xa
Dối trá1
Gửi hương cho gió (1945)
Lời thơ vào tập Gửi hương
Nguyệt cầm 3
Buồn trăng
Lời kỹ nữ 5
Gửi hương cho gió1
Bài thứ năm
Mời yêu1
Phơi trải
Khờ dại 10
Chỉ ở lòng ta
Giục giã 2
Buổi chiều
Tặng bạn hiện tại
Xuân rụng
Hư không
Tự dưng
Tình qua
Thu1
Bụi mưa mờ cũ
Ngẩn ngơ1
Tình đầu tiên 1
Xuân đầu
Chat chit với Thơ thơ
Lưu học viên
Đêm đầu tiên
Nước đổ lá khoai
Những kẻ đợi chờ
Nhớ mông lung
Sương mờ
Lặng im
Khi chiều giăng lưới
Ngã ba
Tặng thơ
Kỷ niệm (Ι)
Hết ngày hết tháng
Yêu mến
Giã từ thể xác…
Đi dạo
Ý thoáng
Mơ xưa1
Hè2
Kẻ đi đày
Riêng tây
Truyện cái thư
Rạo rực
Dâng
Chiều đợi chờ

Sầu
Rộng lớn
Đẹp
Giới trẻ
Ngọn quốc kỳ (1945)
Vịnh cái cờ
Ngọn quốc kỳ1
Dưới sao vàng (1949)
Bài thơ của mẹ Việt muôn đời
Trận trường kỳ
Mai
Căm hận
Xuân viet nam
Đêm đêm tiếng của lòng Trung Bắc…
Tất cả chúng ta…
Nguồn thơ mới
Hồn cách mạng
Tiếng vàng
Tiếng nói viet nam
Bầy chim dân tộc
1 cuộc biểu tình
Tổng… bất đình công
Biểu tình mưa
Mê quần chúng
Thủ đô đêm mười chín
Nhớ mùa tháng tám
Ảnh cụ Hồ
Kim chỉ
Nhớ tay chân
Biệt ly kháng chiến
Mãi mãi
Hương đời
Đôi hoa gạo
Một ngày xuân
Trở về
Mẹ con (1954)
Bà cụ mù loà
Mẹ con
Anh bộ đội về làng
Sáng (1954)
Hoà bình
Ta chào Vôn ga – Đông
Tặng đồng chí tâm giao
Thơ dâng Bác Hồ
Làng Còng
Người nổi tiếng (1955)
Sao lại vui sướng từ bây giờ
Chị Cúc
Cái cặp tóc
Không sợ
Em bé
Chị Dung
Chòm Văn Sơn
Nhà mới
Quốc gia
Bồ câu trắng
Gửi Nam Bộ mến yêu
Bà mẹ miền Nam
Chiếc gối
Tặng nhà thơ Pa-thét Lào: Xôm-xi
Nằm bệnh xá
Ta chào Việt Bắc, về xuôi
Ta đi tới Mạc Tư Khoa
Cầm tay (1962)
Đề từ
Từ xa bờ cỏ đường quê
Ái tình san sẻ
Ước chi…
Mưa
Những suối trời
Chưa hiểu
Mặt người thương
Bá Nha, Trương Chi
Quả trứng và lòng đỏ
Ngút ngàn
Anh nhớ thương ai
Một buổi ban mai
Hoa nở sớm
Mượn nhà vũ trụ
Ái tình mong muốn hoá vô biên…
Cái dằm
Anh đến thăm em
Uống xong lại khát…
Hoa đẹp là hoa nhìn với mắt em…
Sao em lại như vậy
Thơ tình mùa xuân
Một buổi chiều
Gần… xa…
Nguyện
Hoa cải cúc
Áo em
Biển
Aragông và Enxa
Mũi Cà Mau (1962)
Bài mở màn
Mũi Cà Mau
Bàn tay ta
Hỡi mình
Bà má Năm Căn
Chị Vân
Em Ứng

Xem Thêm  Cách thay đổi màu của trình giữ chỗ đầu vào HTML5 bằng CSS - màu đường viền đầu vào html

Nụ cười Lê Quang Vịnh
Vườn hoa “Thống Nhất”
Tiếng ru con
Đường vào Nam
Chung thuỷ
Máy tự tử
Phải sàng ra, phải lọc ra
Căm giận
Tội ác phá rừng
Một tên Mỹ bị sập hầm chông
Mưa phóng xạ Mỹ
Nỗi cô đơn của thần Tự Do (ở Mỹ)
Lời thề
Riêng chung (1962)
Những vần xây dựng
Ngói mới
Cao
Trước cổng nhà máy xay
Những kỷ niệm lớn
Gánh
Tranh đấu
Lý tưởng
Tạc theo hình ảnh cụ Hồ
Lệ
Mười lăm năm
Những bài thơ thời sự
Bia viet nam
Nỗi mừng nghe tin lúa
Đẻ một hành tinh
Đã đến mặt trăng
Lưng trăng
Rừng thu Xibêri
Chào Hạ Long
Biển lúa
Rét
Thăm Hoà Bình
Về Tuyên
Xuân
Hoa
Trồng cây
Phượng mười nǎm
Hỏi
Em đến chơi
Sớm nay
Dạ hương
Con sáo sang sông
Hai bức thư
Nhớ em
Ngọc tặng
Gieo mùa
Vô sản chuyên chính
Đi với dòng người
Chặt cái ngậm ngùi
Gió
Cặp mắt xanh non
Cụ Muỗi
Cầu an
Ốm

Một Bế Văn Bầy
Thép cứng đặc biệt là thép người
Phú Lợi
Gửi sông Hiền Lương
Nhớ quê Nam
Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong1
Một vườn xoài
Em chờ anh
Tôi giàu cặp mắt (1970)
Đêm ngủ ở Tuy Phước1
Hoa cà phê
Hoa keo ở Quy Nhơn1
Quả sấu non trên cao1
Thác Gu Ga1
Mười bài thơ (1974)
Hoa cau
Ba lời cảm ơn
Ánh sáng
Thanh ca (1982)
Anh nằm bệnh xá
Chậm chậm đừng quên…
Phan Thiết

Viết một bình luận