Đặc điểm thơ quang dũng

Đặc điểm thơ quang dũng

Bạn đang xem bản tóm gọn của ebook. Xem & tải ngay bản đầy đủ của ebook tại đây (947.45 KB, 95 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Trí Thanh

ĐẶC ĐIỂM THƠ QUANG DŨNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2006

MỤC LỤC

MỤC LỤC …………………………………………………………………………………………………………………… 3
MỞ ĐẦU …………………………………………………………………………………………………………………….. 5
1. Nguyên nhân chọn chủ đề …………………………………………………………………………………………………… 5
2. Hạn chế chủ đề ………………………………………………………………………………………………………. 6
2.1. Mục đích tìm hiểu ……………………………………………………………………………………….. 6
2.2. Đối tượng tìm hiểu ………………………………………………………………………………………. 6
3. Lịch sử vấn đề ………………………………………………………………………………………………………. 7
3.1. Mở màn …………………………………………………………………………………………………………… 7
3.2. Các hướng tiếp cận thơ Quang Dũng …………………………………………………………………… 9
3.2.1. Hướng tiếp cận đi vào giới thiệu cảm tưởng, nhận xét chung về thơ Quang Dũng
dựa vào cuộc sống & nhân loại của nhà thơ……………………………………………………………… 9
3.2.2. Hướng tiếp cận đi vào nghiên cứu thẩm bình một số tác phẩm rõ ràng và cụ thể ………………….. 12
3.3. Nhận định chung……………………………………………………………………………………………. 14
4. Cách thức tìm hiểu …………………………………………………………………………………….. 15
4.1. Cách thức nghiên cứu & đo đạc ………………………………………………………………… 15
4.2. Cách thức tổng hợp phân loại …………………………………………………………………….. 15

4.3. Cách thức diễn tả, so sánh đối chiếu ………………………………………………………….. 15
4.4. Cách thức hệ thống …………………………………………………………………………………… 15
5. Một số đóng góp của luận văn ……………………………………………………………………………… 15
6. Cấu trúc của luận văn …………………………………………………………………………………………… 16
CHƯƠNG 1: CUỘC ĐỜI, QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC VÀ NGUỒN THI CẢM TRONG
THƠ QUANG DŨNG ………………………………………………………………………………………………… 17
3

1.1. Cuộc sống & công cuộc sáng tác…………………………………………………………………………… 17
1.1.1. Cuộc sống ……………………………………………………………………………………………………. 17
1.1.2. Tiến trình sáng tác ………………………………………………………………………………………. 22
1.2. Nguồn thi cảm trong thơ Quang Dũng ……………………………………………………………….. 24
1.2.1. Nguồn thơ viết về quê hương quốc gia ………………………………………………………….. 24
1.2.2. Cảm xúc khát vọng xuất phát ……………………………………………………………………. 29
CHƯƠNG 2: HÌNH TƯỢNG THƠ TRONG THƠ QUANG DŨNG ……………………………. 34
2.1. Hình mẫu thơ ………………………………………………………………………………………………… 34
2.2. Hình tưọng thơ trong thơ Quang Dũng ……………………………………………………………… 35
2.2.1. Hình mẫu {q} hương…………………………………………………………………………………. 36
2.2.2. Hình mẫu người lính …………………………………………………………………………………. 50
CHƯƠNG 3: NGÔN NGỮ THƠ VÀ THỂ THƠ TRONG THƠ QUANG DŨNG…………. 64
3.1. Ngôn từ thơ trong thơ Quang Dũng ………………………………………………………………… 64
3.1.1. Văn nghệ dùng từ bình dân, từ chỉ địa danh ……………………………………………………. 65
3.1.2. Văn nghệ sử dụng từ láy & điệp hình ảnh……………………………………………………. 71
3.2. Thể thơ trong thơ Quang Dũng …………………………………………………………………………. 76
3.2.1. Thơ tự do……………………………………………………………………………………………………. 76
3.2.2. Thơ bảy tiếng ……………………………………………………………………………………………… 81
3.2.3. Thể thơ năm tiếng ……………………………………………………………………………………….. 86
KẾT LUẬN ……………………………………………………………………………………………………………….. 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO ………………………………………………………………………………………….. 91

4

MỞ ĐẦU
1. Nguyên nhân chọn chủ đề
1.1. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp & đế quốc Mĩ để bảo vệ nền độc lập đã điểm
vào trang sử hào hùng của dân tộc những vết son chói lọi, ghi dấu giai đoạn đau thương nhưng vô
cùng anh dũng của nhân dân ta. Ba mươi năm chưa hẳn đã là khoảng thời gian dài đối với lịch
sử bốn ngàn năm dựng nước & giữ nước. Song nó cũng đủ để dân tộc ta làm ra những “chấn
động địa cầu”, cũng đủ để bộc lộ hết vẻ đẹp tâm hồn & lòng dũng cảm của nhân loại Việt
Nam. Đấu tranh cũng từng chấm dứt bằng ngần ấy thời gian nhưng dư âm của nó vẫn đọng lại
trên từng trang thơ. Trong khoảng thời gian ba mươi năm đó, nền thơ ca Viet Nam đã gặt hái
được nhiều thành quả vô cùng đặc sắc. Thơ ca đã thực sự trở thành sức mạnh trí não góp thêm phần
làm ra chiến thắng vẻ vang của dân tộc ta. Có thể nói, chưa lúc nào nền văn học nước nhà lại
hiện ra một đội ngũ nhà thơ đông đảo & nhiều thế hệ như ở giai đoạn này. Bên cạnh lớp nhà
thơ thành danh từ trước Cách mạng như: Tố Hữu, Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan
Viên, Nguyễn Bính, Tế Hanh,… một thế hệ nhà thơ hiện ra ngay từ hồi đầu cuộc kháng chiến
chống Pháp & đã lập tức cam đoan mình trên diễn bọn thi ca như: Hồng Cầm, Nguyễn
Đình Thi, Hồng Trung Thơng, Chính Hữu, Hồng Ngun, Hồng Lộc, Trần Hữu Thung,
Minh Huệ,… Trong đó khơng thể khơng kể tới nhà thơ Quang Dũng.
1.2. Bên cạnh những đóng góp đáng kể trong ngành nghề văn xuôi, Quang Dũng hiện ra
trong nền văn học hiện đại dân tộc với nhân cách là một nhà thơ bằng một hồn thơ mới lạ, riêng
biệt. Trải qua hơn nửa thế kỷ với biết bao thăng trầm & đầy thử thách, Quang Dũng vẫn giữ
một địa điểm trọng yếu trong công cuộc văn học Viet Nam nói chung & thơ ca hiện đại của dân
tộc nói riêng. Thơ ơng đã phản ánh một hành trình lịch sử đau thương mà hào hùng của dân
tộc trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại. Thơ ông đã để lại ấn tượng tốt đẹp & niềm say mê trong
lòng người yêu thơ qua nhiều thế hệ mặc dầu trong một thời gian dài bị nghi kị, quy chụp. Tác
phẩm của ông từ lâu đã được mang vào giảng dạy ở nhà trường phổ thông là một chứng minh
hùng hồn cho điều đó. Tìm hiểu về: “Đặc điểm thơ Quang Dũng” sẽ góp phần khẳng định

tài năng của ơng trong lĩnh vực thơ ca, làm sống lại một tâm hồn chân thực, hồn hậu mà hào
hoa, lãng mạn – một tâm hồn tiêu biểu cho một thế hệ trưởng thành trong bão táp của cách
mạng tháng Tám và được tôi rèn, thử thách qua hai cuộc kháng chiến.
5

1.3. Quang Dũng là nhà thơ trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống Pháp cùng với
những gương mặt tiêu biểu như: Nguyễn Đình Thi, Chính Hữu, Hồng Ngun, Hồng Trung
Thơng, Hồng cầm, Hồng Lộc, Hữu Loan,… Ơng đã góp vào nền thơ ca hiện đại một tiếng nói
khá riêng biệt bằng chất thơ hào hoa, lãng mạn của một nghệ sĩ đa tài. Thơ Quang Dũng ra đời
đã sớm nhận được sự quan tâm, cổ vũ của độc giả. Nhất là kể từ khi bài thơ “Tây Tiến” xuất
hiện.
Tuy vậy, việc nghiên cứu thơ Quang Dũng trong nhiều năm qua cịn rất ít ỏi và tản mạn.
Thiết nghĩ, đối với một hồn thơ như Quang Dũng cần tiếp tục được nghiên cứu một cách tồn
diện và có hệ thống. Từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Đặc điểm thơ Quang Dũng”
trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những cơng trình nghiên cứu của những người đi trước với
mong muốn làm rõ hơn vị trí và những đóng góp nhất định của ơng trong dịng chảy của nền
thơ ca Việt Nam hiện đại. Đồng thời góp một phần hữu ích và thiết thực trong việc giảng dạy
thơ Quang Dũng trong nhà trường phổ thông.
2. Giới hạn đề tài
2.1. Mục đích nghiên cứu
Đặt Quang Dũng trong tiến trình thơ ca Việt Nam hiện đại, từ việc khảo sát, nghiên cứu
văn bản thơ có kết hợp với các yếu tố thời đại, thân thế, hoàn cảnh cá nhân nhà thơ, chúng tôi
hướng tới xác định đặc điếm thơ Quang Dũng và khẳng định những đóng góp của ơng cho nền
văn học nói chung và thơ ca Việt Nam hiện đại nói riêng.
Để làm rõ điều này, chúng tơi liên hệ, so sánh với một số nhà thơ cùng thế hệ với ơng
như: Nguyễn Đình Thi, Chính Hữu, Hồng Cầm, Hồng Trung Thơng, Hồng Ngun, Hồng
Lộc,… ở một số vấn đề cụ thể như: hình tượng quê hương, đất nước; hình tượng người lính;
ngơn ngữ thơ…
2.2. Đối tượng nghiên cứu

Là một nghệ sĩ đa tài, Quang Dũng đã đóng góp cho nền văn học nghệ thuật nước nhà
trên nhiều lĩnh vực: văn, thơ, nhạc, họa. Ở lĩnh vực nào, ông cũng gặt hái được những thành
công đáng kể. Nhưng, thơ ca mới chính là mảnh đất màu mỡ nhất để ông thoa sức gieo trồng và
gặt hái những hạt giống tâm hồn. Và chỉ ở thơ ông, người đọc mới nhận dạng rõ nhất con người
6

nhà thơ Quang Dũng – một tâm hồn chân thực, hồn hậu mang nhiều ước mơ khát vọng, lắm suy
tư, trăn trở nhưng cũng rất bay bổng, phiêu lãng. “Quang Dũng ỉa một nghệ sĩ đa tài. Ông làm
thơ, viết văn, vẽ tranh & soạn nhạc… Ở ngành nghề nào cũng có những thành ụni đáng kể, nhưng
noi bật hơn hết vẫn là thơ” [48, tr.622]. Ở luận văn này, chúng tôi chủ yếu nghiên cứu Quang
Dũng với tư cách một nhà thơ.
Sự nghiệp sáng tác thơ của Quang Dũng trải dài qua ba giai đoạn của nền văn học hiện
đại dân tộc. Trước 1945, Quang Dũng xuất hiện trên thi đàn với một số bài thơ như: “Chiêu
Quân”, “Cố Quận”. Sau 1975, Quang Dũng vẫn tiếp tục sáng tác, trong đó tiêu biểu nhất là bài
thơ: “Nhớ một bóng núi”.
Cịn lại, sự nghiệp thơ ca của ơng chủ yếu được sáng tác trong ba mươi năm chiến tranh
và được tuyển chọn lại trong tập “Mây đầu ô” xuất bản năm 1986, với chỉ vẻn vẹn hai mươi hai
bài thơ. Một tập thơ riêng mà cho tận đến những năm cuối đời, người bạn thân đứng ra in ơng
mới có được. Ơng chẳng bao giờ có ý thức vun vén, tạo dựng cho mình một sự nghiệp. Vì thế
thơ ơng cứ vương vãi khắp nơi trên những chặng đường phiêu lãng, qua những chuyến đi của
ơng. Có thể nói, số lượng thơ của Quang Dũng khơng nhiều. Tính hết thảy cũng chỉ chưa đầy
năm chục bài nhưng ơng đã góp vào nền thơ ca hiện đại nước nhà một tiếng nói riêng biệt, độc
đáo. Đánh giá về sự nghiệp thơ ca của Quang Dũng, nhà nghiên cứu văn học Văn Giá viết:
“Lúc này thì áng mây trắng Xứ Đồi Quang Dũng vẫn cứ lãng đãng ngang trời, phủ một bóng
mát lớn xuống nền thơ Viet Nam hiện đại” [22, tr.9]. Cùng đồng ý với ý kiến này, nhà nghiên
cứu Nguyễn Xuân Nam viết: “Nền thơ mới của các bạn cần nhiều nhà thơ tốt & khác nhau.
Quang Dũng không phải là người viết nhiều, in nhiều. Nhưng với “Mây đầu ô” anh đã mang đến
cho tất cả chúng ta phần tắt đẹp nhất của tâm hồn mình, của cá tính ý tưởng của mình” [74, tr.439].
Ở luận văn này, chúng tơi chủ yếu đề cập đến những tác phẩm thơ được Quang Dũng sáng tác

trong hai cuộc kháng chiến, được in trong các tập: “Bài thơ sông Hồng” (1956), “Rừng biển quê
hương” (1957), “Mậy đầu ô” (1986).
3. Lịch sử vấn đề
3.1. Mở đầu
Nhớ lại đời thơ Quang Dũng, nhà thơ Trần Lê Văn viết trong lời giới thiệu “Tuyển tập
Quang Dũng” xuất bản 1999: “Trước Tây Tiến, Quang Dũng đã làm thơ. Trong những bài thơ
7

đầu tay của anh, có bài có thể coi như tiếng dạo bọn (…). Không những thế, đến “Tây Tiến”, Quang
Dũng mới khởi đầu cam đoan được minh, khởi đầu bộc lộ sự hĩnh thành một phong thái thơ,
một gương mặt thơ” [69, tr.23].
Quang Dũng đến với thơ rất sớm. Ông gia nhập làng thơ với bài thơ “Chiêu Quân” được
viết năm 1937, khi mới mười sáu tuổi. Nhưng Quang Dũng chỉ thực sự được cam đoan & nổi
tiếng với bài thơ “Tây Tiến” (1948). Ngay từ khi mới ra đời, bài thơ “Tây tiến” đã gây một tiếng
vang lớn. Nó làm say mê bạn đọc trong & ngoài quân đội, nó gây chú ý của giới nghiên
cứu, song chẳng bao lâu bài thơ bị cấm lưu hành. & cùng định mệnh với bài thơ, nhà thơ Quang
Dũng cũng tương đối ít được nhắc đến. Trong khoảng vài chục năm trở lại đây, kể từ khi cải tiến, trên
diễn bọn văn học hiện ra nhiều bài tìm hiểu, phê bình của các nhà tìm hiểu, các nhà thơ,
nhà văn & bạn thân của Quang Dũng viết về ông. Nhận xét về sự nghiệp thơ Quang Dũng, nhà
tìm hiểu văn học Văn Giá viết: ”’Khơng thể nói là đã có một sự nghiệp bề thế, số lượng văn
phẩm thì cũng thường thường, ấy vậy mà Quang Dũng cứ có một chỗ đứng chắc chắn trong nền
thơ ca hiện đại” [22, tr.7].
Trong phạm vi hạn chế của luận văn, chúng tôi sẽ lần lượt điểm qua một số cơng trình
tìm hiểu, phê bình về thơ Quang Dũng có liên quan đến chủ đề tìm hiểu. Trên nền tảng đó,
chúng tơi đề ra các quan niệm nhận xét về đặc điểm bài viết & văn nghệ thơ Quang Dũng. Từ
đó, giúp chúng tơi có cái nhìn tồn diện về đặc điểm thơ ơng.
Tính đến nay, thơ Quang Dũng được tìm tòi & tìm hiểu trên nhiều phương diện với
mức độ đậm nhạt khác nhau. Nhìn chung, giới tìm hiểu tiếp cận thơ ơng theo hai hướng.
Hướng đầu tiên, đi vào giới thiệu, cảm tưởng, nhận xét chung về thơ Quang Dũng dựa vào cuộc

đời & nhân loại nhà thơ. Hướng thứ hai, đi vào nghiên cứu, thẩm bình một số bài thơ rõ ràng và cụ thể để
làm tư liệu trong gia đình trường. Để hình dung rõ ràng và cụ thể, trong phần lịch sử vấn đề, chúng tôi đi vào
trình bày các hướng tiếp cận thơ Quang Dũng, & từ đó có một cách nhận xét chuẩn xác, hợp lý
về đặc điểm thơ Quang Dũng & những đóng góp của ông so với nền thơ ca hiện đại.

8

3.2. Các hướng tiếp cận thơ Quang Dũng
3.2.1. Hướng tiếp cận đi vào giới thiệu cảm tưởng, nhận xét chung về thơ Quang Dũng
dựa vào cuộc sống & nhân loại của nhà thơ
Theo phía này có các bài tìm hiểu, giới thiệu của các nhà tìm hiểu, các nhà thơ,
nhà văn & bạn thân thân thiết với Quang Dũng như: Trần Lê Văn, Ngơ Qn Miện, Hồng Như
Mai, Mai Hương, Thanh Châu, Nguyễn Xuân Nam, Phong Lê, Đỗ Lai Thúy, Văn Giá, Hồi
Việt, Lữ Giang, Lê Bảo, Vân Long,… Nhìn chung, các nội dung từ nhiều hướng cảm tưởng đánh
giá khác nhau, các Author đã giới thiệu cùng người xem những ấn tượng chung về thơ Quang
Dũng trên hai phương diện bài viết & văn nghệ. Trong nội dung “Về Quang Dũng”, nhà thơ
Trần Lê Văn, người bạn bè thiết đồng hành với Quang Dũng, đã giới thiệu khá đầy đủ về nhà thơ
từ tiểu sử, gia cảnh, đặc điểm nhân loại cho đến sự nghiệp ý tưởng văn nghệ của ông. Sau
khi nhận xét đỉnh cao “Tây Tiến” trong sự nghiệp thơ ca Quang Dũng, Trần Lê Văn đi vào phân
tích bài thơ gắn với hồn cảnh chào đời của nó. Trên nền tảng đó, ơng cam đoan giá trị & những
đóng góp to lớn của “Tây Tiến”. Kế tiếp, Trần Lê Văn giới thiệu một số bài thơ mà ơng tâm
đắc như: “Những làng đi qua”, “Lính râu ria”, “Bất Bạt đêm giao quân” và “Mây đầu ô”. Từ
đó, ông nêu ra một số đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của thơ Quang Dũng và một lần nữa
phủ nhận những ý kiến một thời cho rằng thơ Quang Dũng là loại thơ “hữu tình tiểu tư sản”,
thơ “lính cậu”, “đưa quan niệm buồn rớt”.
Với chí lớn ấy, Quang Dũng và những người cùng lứa tuổi với anh đi theo Cách mạng,
vào làng thơ cách mạng; dù có cơn gió lãng mạn ruối theo thì cũng là gió thuận, gió mạnh, gió
đẩy cánh buồm. Cái lãng mạn ấy – trong phần tốt đẹp của nó – dễ gặp, dễ hoa nhập với lãng
mạn cách mạng [69, tr.32-33]. Đây là một tư liệu quý, rất đáng quan tâm. Nó giúp cho người

viết luận văn này có cái nhìn tương đối hồn chỉnh khi đi vào nghiên cứu, tiếp cận thơ Quang
Dũng từ góc độ bản thể.
Ngơ Qn Miện khi bàn về tập “Mây đầu ơ” có những nhận xét rất tinh tế: “Quang Dũng
là một tâm hồn thơ đa cảm, thơ anh đầy cảm hứng, đầy cảm tình, nó là thứ thơ mà người ta gọi
là tự phát (spontané) cứ như anh khơng hề có ý làm thơ” [71, tr.12], hay ở một chỗ khác ông
viết: “Thơ Quang Dũng đi vào tâm hồn người xem khá hồn nhiên & thâm sâu” [71, tr.12]. Cùng
chia sẻ với nhận xét này của Ngô Quân Miện, Nguyễn Xuân Nam, trên tuần báo Nghệ thuật, số
9

33, ngày 16-8-1986 đã viết: “Quang Dũng làm thơ hồn nhiên q. Anh chỉ biết viết cái mình
vốn có, cái mình đang có, cả mặt mạnh và mặt yếu, một cách chân thành” [74, tr.438]. Ở bài
viết này, Nguyễn Xuân Cánh mày râu thiệu đến người xem tập “Mây đầu ô”. & khi nhận xét tập
thơ, ông viết: “Quang Dũng không viết những câu chung chung, thường viết những câu thơ
nhiều chi tiết cụ thể quan sát được. Nhiều chi tiết nổi rõ lên với màu sắc, âm thanh, mùi vị”
[74, tr.435]. Hay khi bàn về xúc cảm trong tập thơ này, Nguyễn Xuân Nam viết: “Thơ Quang
Dũng làm phong phú thêm bộ sưu tập những vẻ đẹp của làng quê… mà Nguyễn Nhược Pháp,
Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đồn Văn Cừ từng có đóng góp” [74, tr.437].
Tâm đắc với chất hữu tình của hồn thơ Quang Dũng, trong nội dung: “Sau mười năm: đọc
lại Mây đầu ô”, nhà thơ Vân Long có một đánh giá khá tinh tế: “Cái gì hồnh tráng, bi tráng,
xanh thẳm, ngút ngàn… mới là vòm trời của cánh bay Quang Dũng” [44, tr.48]. Để làm nền tảng
cho nhận xét đó, Vân Long đã nghiên cứu một số bài thơ như: Tây Tiến, Những làng đi ngang qua, Bất
Bạt đêm giao quân, Đường trăng,… Từ đó, nhà thơ xem “Mây đầu ô” là một “dãy núi nhấp
nhô” với những đỉnh cao như Tây Tiến, Mắt người Sơn Tây,…&, ông cho là tập thơ đã đánh
dấu một bước chuyển của thi pháp thơ Viet Nam.
Trân trọng với một tính cách chân tình & một hồn thơ hữu tình, Văn Giá cho là:
“Quang Dũng: Áng mây trắng xứ Đoài”. Quang Dũng ra đời để làm một kiếp mây. “Hình ảnh
mây đã ám vào số phận thi ca này như một định mệnh, như một phán quyết của thượng giới vơ
hình không thể cưỡng lại được ngay từ hồi mới bước vào nghiệp thơ kia” [22, tr.3]. Hay ở một
chỗ khác ông lại viết: “Suốt một hành trình hồn thơ Quang Dũng, mây đã trở thành một ám

ảnh bền bỉ với nhiều biến hóa” [22, tr.4]. Để nhấn mạnh sáng tạo đó, một lần nữa Văn Giá lại
gọi Quang Dũng là “Áng mây trắng mang hình thi sĩ” ơng viết:
Thì ra vẫn là một đám mây đưa hĩnh tráng sĩ phiêu bồng vào trận mạc. Cả lớp người trí
thức đơ thị xếp bút nghiên xuất phát chinh chiến sau mùa đông năm bốn sáu ấy trong cái nhìn
của nhà thơ đều là những đám mây đưa hình tráng sĩ. Áng mây Quang Dũng hịa lẫn trong
đội hình ấy [22, tr.4].
Rồi, áng mây ấy đã sà xuống cõi thế gian với một tấm lịng u mến, mê say cuộc đời:
“Ơng vẫn làm một áng mây ơm ấp tình u, ấp iu khung cảnh đời thường” [22, tr.7]. Cùng chia
sẻ với quan điểm này, Mai Hương đánh giá: “Có người làm thơ lấy cái chân làm gốc, lại có
10

người trọng sự tài hoa. Ở Quang Dũng là sự kết hợp tuyệt vời giữa vẻ đẹp chân chất, dân dã
với tài hoa tinh tế” [72, tr.22]. Đỗ Lai Thúy cũng gọi Quang Dũng là “Mây trắng xứ Đoài”. Ở
nội dung này, ơng đi sâu tìm tòi chất hữu tình thấm đẫm trong nhân loại thơ Quang Dũng:
“Nghĩa là thơ ông vẫn ánh lên trong ánh sáng của mỹ học thơ mới” [64, tr.49]. Cùng tán thành
với quan niệm này, Nguyễn Đăng Mạnh trong bài “Quang Dũng, người thơ” đã viết: “Thơ Quang
Dũng có những bài thật hay. Cảm hứng lãng mạn cuốn bốc dào dạt” [47, tr.l16]. Nhìn chung,
các ý kiến trên là những gợi ý rất thiết thực và bổ ích cho chúng tơi khi đi sâu nghiên cứu đặc
điểm thơ Quang Dũng.
Một trong những bài viết khá cơng phu thể hiện cái nhìn tương đối tồn diện về cuộc đời
và sự nghiệp của Quang Dũng đó là bài viết của Lê Bảo. Ở phần đầu bài viết, Lê Bảo đã đưa ra
một nhận xét khái quát về sự nghiệp sáng tác của Quang Dũng:
Quang Dũng tự thể hiện tài năng của mình trên nhiều thể loại: vẽ tranh, soạn nhạc, viết
truyện, làm thơ. Riêng văn chương: viết truyện nhiều, ghi chép bằng văn xi nhiều, cịn thơ lại
ít. Thế nhưng giá trị văn chương lại khơng tỉ lệ thuận với số lượng, bởi thế cái còn lại của
Quang Dũng lại chính là thơ [4, tr.7].
Từ nhận định chung đó, Lê Bảo đã đi sâu tìm hiểu thơ Quang Dũng trên cả hai phương
diện nội dung và nghệ thuật. Bàn về nội dung thơ Quang Dũng, Lê Bảo cho rằng: “Thơ Quang
Dũng hội tụ được hai dòng thi cảm. Đất nước, quê hương cùng với khát vọng lên đường là cốt

cách của một hồn thơ, một đời thơ ấy” [4, tr.7]. Nhận định này đã được nhà phê bình khai triển
ở hai nội dung: Đất nước, quê hương và khát vọng lên đường. Đánh giá về nguồn thi cảm quê
hương đất nước, Lê Bảo nhận xét: “Quê hương, với Quang Dũng, đã là một đồng hành, một nâng
đỡ diệu kì, giúp một đời thơ vững bước. Quê hương với thi sĩ chẳng những là một tĩnh yêu, mà còn
là niềm tin” [4, tr.9]. Xem xúc cảm quốc gia, quê hương với xúc cảm khát vọng xuất phát là
biện chứng của suy nghĩ hành động, nhà tìm hiểu đã đề ra một nhận xét tổng quan về nguồn
thi cảm này trong thơ Quang Dũng: ”Khao khát xuất phát với hào khí & lịng tình nguyện,
khơng phải người lính khơng nghĩ đến hy sinh. Nhưng có hành động nào cao quý hơn hành
động xả thân cho lý tưởng” [4, tr.19]. về mặt văn nghệ, Lê Bảo đã đi sâu khai thác cách xây
dụng hình ảnh, ngơn từ, giọng điệu… &, ông có một đánh giá thật xác đáng: “Thơ Quang Dũng
kết hợp được cốt cách cổ điển, hiện đại với sự cách tân, nghĩa là vừa kế thừa, vừa đổi mới” [4,
11

tr.23]. Nhìn chung, nội dung của Lê Bảo đã trổ tài một cái nhìn khá sâu sắc & tồn diện về thơ
Quang Dũng. Đây là chuyên luận rất có ích & thiết thực so với chúng tôi khi thực hiện chủ đề
này.
3.2.2. Hướng tiếp cận đi vào nghiên cứu thẩm bình một số tác phẩm rõ ràng và cụ thể
Theo hướng tiếp cận này, có một số nội dung của các nhà văn, nhà tìm hiểu được đăng
tải trên các báo, báo chí hay trên các tờ đặc san… tiêu biểu là các bài của: Hà Minh Đức, Trần
Đăng Xuyên, Nguyễn Đăng Mạnh, Vũ Quần Phương, Phong Lan, Trần Lê Văn,… Nhìn chung,
các nội dung cốt yếu chăm chú vào nghiên cứu, thẩm bình bài thơ “Tây Tiến” & có đề cập đến vài
bài thơ khác như: Mắt người Sơn Tây, Mây đầu ơ, Lính râu ria, Những làng đi ngang qua, Khơng
đề,…
Có vẻ điều đó cũng dễ hiểu vì “Tây Tiến” chính là hồn thơ Quang Dũng. Khi đánh giá về
“Tây Tiến”, nhà thơ Trần Lê Văn viết: “Quang Dũng vào làng thơ cách mạng với bài thơ “Tây
Tiến”. Như có một mối dun gì ràng buộc, bài thơ ấy gắn bó với người làm ra nó đến mức nói
đến Quang Dũng là người ta nhớ đến “Tây Tiến” và ngược lại” [69, tr.19].
Cùng chia sẻ với nghĩ suy đó của Trần Lê Văn, nhà tìm hiểu Phong Lan trên Báo chí
văn học, số 3 – 1990 cũng viết: “Quang Dũng như một nhà thơ là nhờ riêng một bài thơ Tây

Tiến ấy được sáng tác cách đây bốn mươi hai năm. Một bài thơ có sức sống lâu dài như thế kể
cũng lạ lùng và đáng cho nhiều nhà thơ ao ước.” [71, tr.19]. Đây là một nhận xét tuy có hơi
quá lời nhưng là một đánh giá cao đối với “Tây Tiến”. Ở một chỗ khác, khi đánh giá về giá trị
nội dung của bài thơ này, Phong Lan viết: “Có thể nói Tây Tiến – đó chính là một tượng đài
bằng thơ bất diệt mà nhà thơ Quang Dũng với toàn bộ tấm lòng đã dựng nên để hồi tưởng
những người chiến sĩ vơ danh đã hy sinh vì nước” [71, tr.24].
Trong bài viết “Quang Dũng & Tây Tiến”, Trần Lê Văn nói rất rõ về hồn cảnh ra đời của
bài thơ và khẳng định: “Bài thơ Tây Tiến nảy sinh trong những năm tháng chẳng thể nào quên,
từ một môi trường sổng tranh đấu cũng chẳng thể nào quên” [71, tr.11]. Sau khi đánh giá về
cái bi và cái hùng của bài thơ, Trần Lê Văn nhận định: “Bài thơ Tây Tiến có phảng phất những
nét buồn, những nét đau, nhưng đó là cái buồn đau bi tráng chứ không bi lụy” [71, tr.l4].

12

Cùng chia sẻ với suy nghĩ này, Trần Đăng Xuyên đi sâu phân tích hai đặc điểm nổi bật
của bài thơ “Tây Tiến” là cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng. Ơng cho rằng: “Tây Tiến
khơng hề che dấu cái bi. Nhưng bi mà không lụy. Cái bi trổ tài bằng một giọng điệu, âm
hưởng, màu sắc sang trọng, hào hùng. Chất hữu tình hòa phù hợp với chất bi lụy, tạo ra vẻ đẹp
mới lạ của bài thơ” [4, tr.38]. Hay ở một chỗ khác, khi đi sâu phân tích hình tượng người lính
và đồn binh Tây Tiến, Trần Đăng Xuyên viết:
Quang Dũng đã chọn lọc, đã tinh lọc những nét tiêu biểu nhất của những người lính Tây
Tiến để tạc nên bức tượng đài tập thể đặng khái quát được gương mặt chung của cả đoàn
quân. Cái bi và cái hùng là hai chất liệu chủ yếu của bức tượng đài, chúng hòa quyện, xâm
nhập vào nhau, nương tựa, nâng đỡ nhau, tạo nên vẻ đẹp bi tráng – cái thần thái chung của cả
bức tượng đài [4, tr.43].
Xen lẫn những đánh giá về nội dung, nhà nghiên cứu cũng đưa ra những nhận xét rất sâu
sắc về nghệ thuật trên nhiều phương diện từ cách dùng từ đến nhạc điệu của bài thơ: “Hơn đâu
hết, trong đoạn thơ này, chất thơ và chất nhạc hòa quyện với nhau đến mức khó mà tách biệt”
[4, tr.42]. Viết về bài thơ “Tây Tiến”, Hà Minh Đức cũng có những suy nghĩ rất gần gũi với

Trần Đăng Xuyên:
Tây Tiến là một sáng tác thơ có giá trị về tư tưởng và nghệ thuật.. Bài thơ được viết ra
với những màu sắc thẩm mỹ phong phú. Có cái đẹp hùng tráng của núi rừng hiểm trở, và vẻ
đẹp bình dị nên thơ của cuộc sống nơi bản làng quê hương, có cảm hứng mạnh mẽ hịa hợp với
chất trữ tình nhẹ nhàng mềm mại trong thơ. Đặc biệt Tây Tiến là bài thơ giàu nhạc điệu, nhạc
điệu của cuộc sống và nhạc điệu của tâm hồn [4, tr.35].
Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đã đi sâu phân tích bài thơ “Tây Tiến” đồng thời đánh giá
cao giá trị và những đóng góp của bài thơ, xem đây là một hiện tượng độc đáo, là một trong
những đỉnh cao của thơ ca chống Pháp nói riêng và thơ ca hiện đại nói chung. Đây cũng là
những cứ liệu quan trọng giúp chúng tơi có cái nhìn sâu sắc hơn về cảm hứng trong thơ Quang
Dũng cũng như hình tượng và nghệ thuật thể hiện trong thơ ông.

13

Xem Thêm  Câu lệnh if trong Python với nhiều điều kiện (và + hoặc) - và hoặc các câu lệnh trong python

3.3. Nhận định chung
Nhà thơ xứ Đoài – Áng mây trắng trên đỉnh núi Ba Vì đã bay xa. Nhưng, trên bầu trời văn
học đương đại vẫn lãng đãng một “Áng mây mang hình thi sĩ”. Áng mây ấy in dấu một thời khó
khăn, gian khổ mà hào hùng của dân tộc. Áng mây ấy không quên mang theo vào cõi vĩnh hằng
một hồn thơ, một nghiệp thơ lắm vinh quang nhưng cũng nhiều hệ lũy. Từ hơn nữa thế kỉ nay,
cùng tồn tại với những vần thơ Quang Dũng, đã xuất hiện nhiều bài nghiên cứu, phê bình tìm
hiểu thơ ơng trên nhiều phương diện. Nhìn chung, các cơng trình nghiên cứu đã đi vào phân
tích, lý giải và đánh giá thơ Quang Dũng trên hai phương diện nội dung và nghệ thuật, từ đó
giới thiệu cùng người đọc một hồn thơ tài hoa, độc đáo, đồng thời khẳng định những đóng góp
của Quang Dũng trong tiến trình thơ ca hiện đại.
Qua tìm hiểu, chúng tơi nhận thấy các cơng trình nghiên cứu dù với nhiều hướng tiếp cận
khác nhau nhưng đều có chung một số nhận xét, đánh giá tương đối thống nhất về thơ Quang
Dũng như sau:
– Quang Dũng là một hồn thơ dân dã, hồn nhiên, chân thành với một tấm lòng yêu mến,
say mê cuộc sống.

– Thơ Quang Dũng là sự hội tụ của hai dòng thi cảm: đất nước, quê hương và khát vọng
lên đường với một chất thơ giàu âm nhạc và hội họa.
– Thơ Quang Dũng là sự kết hợp của một ngòi bút tài hoa và một tâm hồn lãng mạn. Với
những bài thơ nhuần nhuyễn giữa cảnh và tình, bút pháp hàm súc cơ đọng, có nhiều sức gợi
cảm, Quang Dũng là một gương mặt khá tiêu biểu của thơ ca trong ba mươi năm kháng chiến.
“Ông là một nhà thơ được ái mộ với vẻ đẹp & tính cách ý tưởng mới lạ của một cây viết
chân tài. Một hồn thơ “thoảng mùi thơm quê mùa” bình dân mà tinh tế, mà hồn hậu với một
chiều sâu nhân bản” [48, tr.622].
Những bài viết trên đây của các nhà nghiên cứu, phê bình đã nhìn nhận thơ Quang Dũng
từ nhiều góc độ khác nhau. Tuy nhiên, chưa có một chuyên luận nào khảo sát một cách toàn
diện về đặc điểm thơ Quang Dũng. Vì vậy, nghiên cứu một cách hệ thống thơ ca Quang Dũng
trong dòng chảy của thơ ca Việt Nam hiện đại vẫn còn là đề tài mới lạ, hấp dẫn đối với nhiều
nhà nghiên cửu, phê bình văn học cũng như những người quan tâm, yêu thích thơ ông.
14

4. Phương pháp nghiên cứu
Ở luận văn này, chúng tôi sử dụng và kết họp các phương pháp nghiên cứu sau đây:
4.1. Phương pháp phân tích và tổng hợp
Để thực hiện đề tài nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng các thao tác phân tích các hình ảnh
nổi bật, cấu trúc ngơn ngữ, các tín hiệu thẩm mỹ để làm rõ nội dung thơng báo của thơ Quang
Dũng. Từ đó, chúng tôi rút ra những đặc điểm thơ Quang Dũng.
4.2. Phương pháp thống kê phân loại
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi chủ yếu đi vào khảo sát các bài thơ được Quang Dũng
sáng tác trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc. Từ đó, chúng tơi thống kê tần số xuất
hiện của những hình ảnh thơ tiêu biểu, nổi bật, các hiện tượng ngôn ngữ cần nghiên cứu. Trên
cơ sở đó phân ra những ngưồn cảm hứng chính trong thơ Quang Dũng.
4.3. Phương pháp miêu tả, so sánh đối chiếu
Trên cơ sở thống kê phân loại, chúng tôi đi sâu miêu tả các nguồn thi cảm, những hình
tượng thơ nổi bật trong thế giới thơ Quang Dũng. Đồng thời, chúng tôi đối chiếu nghệ thuật thể

hiện trong thơ Quang Dũng với một số nhà thơ cùng thời với ông.
4.4. Phương pháp hệ thống
Mọi yếu tố đều tồn tại trong một hệ thống, bất cứ hệ thống nào cũng bao hàm trong nó
những yếu tố cụ thể. Việc nghiên cứu đặc điểm thơ Quang Dũng cũng vậy, chúng tơi đặt thơ ca
Quang Dũng trong dịng chảy của thơ ca hiện đại để đánh giá nét riêng biệt, độc đáo và những
đóng góp của ơng trong tiến trình thơ ca hiện đại dân tộc. Để làm được điều này chúng tơi đi
vào khảo sát, phân tích những yếu tố về nội dung và cách thức thể hiện của toàn bộ thơ ca
Quang Dũng theo những hệ thống.
5. Một số đóng góp của luận văn
Quang Dũng là cây bút có một vị trí quan trọng trong nền thơ ca VỊệt Nam hiện đại. So
với một số nhà thơ cùng thời, số lượng tác phẩm thơ của Quang Dũng không lớn nhưng chất
lượng và sự ảnh hưởng của nó thì lại khơng hề nhỏ. Đã có một số cơng trình viết về sự nghiệp
thơ ca Quang Dũng nhưng còn ở góc độ riêng lẻ, tản mạn chưa có một chuyên luận nào nghiên
15

cứu tồn bộ thơ ơng một cách hệ thống. Trên cơ sở tiếp nhận và phát huy những thành tựu
nghiên cứu của những người đi trước, cùng với việc đặt sự nghiệp thơ ca Quang Dũng trong
mối quan hệ với thơ ca hiện đại, luận văn của chúng tôi nhằm xác định một cách hệ thống đặc
điểm thơ Quang Dũng. Chọn đề tài này, chúng tơi có nguyện vọng được đóng góp:

Nêu lên những đặc điểm của thơ ca Quang Dũng.

Làm rõ những giá trị thơ Quang Dũng trên hai phương diện nội dung và nghệ thuật.

– Góp một phần nhỏ vào việc giảng dạy thơ Quang Dũng trong nhà trường tốt hơn.
6. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần dẫn nhập và kết luận, luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Cuộc đời, quá trình sáng tác và nguồn thi cảm trong thơ Quang Dũng.
Chương 2: Hình tượng thơ trong thơ Quang Dũng.
Chương 3: Ngôn ngữ thơ và thể thơ trong thơ Quang Dũng.

16

CHƯƠNG 1: CUỘC ĐỜI, QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC VÀ NGUỒN THI
CẢM TRONG THƠ QUANG DŨNG

1.1. Cuộc đời và quá trình sáng tác
1.1.1. Cuộc đời
Cách đây đúng tám mươi lăm năm, vào cái năm Tân Dậu (1921), cậu bé Bùi Đình Dậu
(Diệm) cất tiếng khóc chào đời tại làng Phượng Trì, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây. Xuất
thân trong một gia đình khá giả vừa sản xuất nơng nghiệp vừa bn bán nhỏ cho nên Quang
Dũng có những năm tháng tuổi thơ khá sung túc, được học hành cẩn thận. Bố đẻ của ơng là cụ
Bùi Đình Kh, một người có chữ nghĩa đã từng làm quan trong tổng Phùng nhưng tính tình rất
khảng khái, độ lượng và hào hoa, phóng khống. Mặc dù có chút chức sắc nhưng ơng rất ghét
nghề nha lại. Mẹ của Quang Dũng – bà Trần Thị Hợi là người vừa đảm đang việc đồng áng lại
vừa giỏi bn bán. Bà giàu lịng nhân hậu, thường giúp đỡ cưu mang những người nghèo khó,
cơ nhỡ. Hai tính cách của hai cụ thân sinh đã thấm vào dịng máu Quang Dũng. Ơng thừa
hưởng tính cách hào hoa phóng khống của bố và tấm lịng nhân hậu, nặng nghĩa tình của mẹ.
Làng Phượng Trì, trong làng, ngồi phố, nửa tỉnh, nửa quê. Người dân ở đây làm ruộng
cũng giỏi buôn bán cũng sành. Nhưng dù giỏi giang, chăm chỉ đến đâu thì cuộc sống vẫn nghèo
khó bởi đất đai cằn cỗi, bởi đất chật người đông. Thế nhưng cái nghèo, cái khó khơng thể làm
cho mảnh đất này xơ xác, tiêu điều, càng không thể làm cho con người nơi đây cằn cỗi. Ngược
lại, người dân xứ Đoài với tâm hồn phóng khống, lạc quan, họ ln tìm thấy vẻ đẹp nên thơ
của q hương mình, họ khơng chỉ sống với ngơ khoai dâu mía mà trong đời sống có cả “Vầng
trăng ru tiếng sáo”, có “Mây trắng xưa nay về tụ họp”, & nơi đây “Phảng phất khí Phong

Châu”.
Người Đại Phùng nổi tiếng với tài nói khốc để gây cười. Có lẽ giữa cuộc sống nghèo khó
đó họ tìm đến tiếng cười rộn rã để quên đi những vất vả, nhọc nhằn và cả những túng thiếu.
Tuy nghèo khó nhưng con người xứ Đồi rất hào hoa, đam mê du hí. Mùa xuân vùng đất này
diễn ra nhiều lễ hội như: lễ hội chùa Thầy, lễ hội chùa Tây Phương và biết bao trò chơi dân
gian khác như hội vật, đánh đu và hội cờ người… Thời trước, bố Quang Dũng đã từng nuôi cả
17

đội quân cờ trong nhà. Theo Trần Lê Văn, người đã sưu tập và tuyển chọn “Tuyển tập Quang
Dũng” thì: “Lúc Quang Dũng còn bé, phố huyện Đan Phượng đã có bãi chiếu xi nê câm, đáng
nhớ đặc biệt là phim của vua hề Sáclô, lại cả một rạp tuồng do hai ông cả Ý & hai Niệm mở ra để
mua vui cho bà con trong vùng” [71, tr.13].
Tất cả những yếu tố đó đã thấm sâu vào tâm hồn Quang Dũng. Có thể nói, cảnh vật xứ
Đồi, khơng khí xứ Đồi và cái chất Sơn Tây đã ngấm vào dịng máu nhà thơ. Những yếu tố đó
khơng những ảnh hưởng lớn đến tính cách, tâm hồn nhà thơ mà nó đã trở thành nguồn cảm
hứng thi ca bất tận cho Quang Dũng. Đặc biệt hơn là những yếu tố đó đã hình thành nên đặc
điểm thơ Quang Dũng. Bởi vậy, người đọc thật có lý khi gọi ơng là nhà thơ xứ Đoài hay “Áng
mây trắng xứ Đoài”.
Quang Dũng sinh ra và lớn lên trong thời kì bão táp cách mạng. Thuở nhỏ ơng học ở
trường làng sau đó theo học người cậu ruột làm giáo học tại ngã ba Thá rồi học sư phạm ở Hà
Nội. Sớm xa mẹ cha, xa mái nhà và xứ Đoài yêu dấu để sống cuộc đời tự lập, thỏa chí giang
hồ. Vì vậy sau khi tốt nghiệp trường sư phạm, Quang Dũng không theo nghề dạy học mà đi
đánh đàn, kéo nhị cho một gánh hát, nay đây mai đó, bơn ba khắp các phố phường Hà Nội.
Sinh ra giữa thời loạn lạc, là một thanh niên giàu lòng yêu quê hương đất nước, có chí khí,
Quang Dũng khát khao cống hiến tuổi trẻ cho cách mạng. Ở cái tuổi mười chín đơi mươi, cái
tuổi mà “tim đang dào dạt máu” và “hồn quay trong gió bão”, Quang Dũng đã tìm và giao du
với những thanh niên có tinh thần yêu nước. Họ cùng nhau đọc những tờ báo tiến bộ, những
cuốn sách hay, mong muốn tìm cho mình một “mặt trời chân lí”.
Lịng khát khao những chân trời xa lạ, bản tính phiêu lãng, giang hồ đã hối thúc Quang

Dũng rời Hà Nội ngao du lên Yên Bái. Nơi đây mối tình đầu đẹp đẽ giữa anh với cô gái vườn
ổi nẩy nở. Nhưng mối tình tha thiết đó cũng khơng giữ chân được cái máu xê dịch của ông. Để
rồi sau hơn hai chục năm gặp lại người yêu năm xưa nhà thơ ngậm ngùi, thương cảm:
Bỏ em anh đi
Đường hai mươi năm
Dài bao chia ly
(Không đề)
18

Ở thời kì mà những người thanh niên yêu nước như Quang Dũng đang “Bâng khuâng đi
kiếm lẽ yêu đời” thì khơng phải ai cũng dễ dàng gặp được cách mạng. Quang Dũng cũng vậy,
lòng khát khao làm cách mạng kết hợp với dòng máu giang hồ đã đưa bước chân ông sang tận
Trung Quốc, rồi gặp Quốc dân đảng, tưởng đâu là tổ chức cách mạng, sống với họ một thời
gian rồi lại ữở về nước. Hào khí của thời đại bão táp cách mạng đã gây chấn động mạnh mẽ
trong tâm hồn Quang Dũng nói riêng và thế hệ thanh niên lúc bấy giờ nói chung. Cùng với toàn
dân, đặc biệt là cùng với những người trong lứa tuổi thanh xuân như mình, Quang Dũng đã dấn
thân vào cuộc. Ơng hịa mình vào dịng thác cách mạng với tất cả men say của người dân mất
nước đang khát khao độc lập, tự do, và cả tấm lòng say đắm cái đẹp của người nghệ sĩ sống có
lý tưởng. Chính hào khí sục sơi của thời đại đã tạo nên một tư thế đẹp đẽ, hùng tráng và lãng
mạn trong thơ Quang Dũng.
Cách mạng tháng Tám thành công đã mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc ta, kỷ nguyên
độc lập tự do, nhân dân ta được làm chủ đất nước, làm chủ cuộc đời. Những chàng trai có học
như Quang Dũng sẽ thoả sức đem tài năng, trí tuệ của mình để xây dựng đất nước. Nào ngờ,
thực dân Pháp trở lại xâm lược. Hưởng ứng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ
Tịch, đầu năm 1947, Quang Dũng xếp bút nghiên, từ giã vợ con gia nhập đoàn binh Tây Tiến
với một tinh thần phơi phới “Chiến trận đi chẳng tiếc đời xanh”. Ra đi trong tư thế hừng hực
của một dân tộc anh hùng chưa bao giờ chịu khuất phục:
Thôi nhé miền xuôi!
Thôi tạm biệt

Thôi chào Hà Nội lửa ngang trời
Ta đi
Ngõ Gạch – tườmg đang đục
(Những làng đi qua)
Thế là người con trai xứ Đồi trở thành “Áng mây đưa hình chiến sĩ” phiêu bồng giữa
trận mạc. Mấy năm trời gắn bó với núi rừng Tây Bắc hùng vĩ, hiểm trở, Quang Dũng cũng như
những người lính trẻ Tây Tiến đã chịu biết bao thiếu thốn, gian khổ, hy sinh. Nhưng nào có hề

19

gì, họ ngắm nhìn cuộc đời hồn nhiên, giản dị, họ xem cái chết nhẹ tựa lông hồng. Bởi, họ ý
thức một cách sâu sắc về vận mệnh dân tộc, vì họ cũng đã từng trải qua qng đời nơ lệ.
Ở giữa nơi sự sống và cái chết kề cận, gian khổ, thiếu thốn và bệnh tật vây hãm, những
chàng trai Tây Tiến vẫn cứ lãng mạn, hào hoa. Sau những trận đánh căng thẳng là những đêm
liên hoan văn nghệ ấm áp tình quân dân, nghĩa đồng đội:
Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ
(Tây Tiến)
Lính Tây Tiến phần đơng là thanh niên Hà Thành với đủ các thành phần: trí thức có, lao
động chân tay cũng có. Họ sống với nhau rất vui vẻ và nghĩa tình bởi họ là những người đồng
chí. Họ cùng chung một lý tưởng là độc lập dân tộc. Giữa chiến trường gian khổ của cuộc
kháng chiến chống Pháp, người đại đội trưởng Quang Dũng với cây kiếm Nhật bên hơng ln
tốt lên cái vẻ đẹp tài tử, hào hoa của người Hà Thành. Nghỉ lại ở một bản làng dọc đường
hành quân hay những phút rảnh rỗi sau mỗi trận đánh, Quang Dũng lại trổ tài mua vui cho mọi
người. Ông ngâm thơ, thổi sáo, đánh đàn và vẽ tranh… Hơn lúc nào hết sự tài hoa kết họp với
chất kẻ Phùng được thế hiện một cách sâu sắc ở con người Quang Dũng như ở cái thời khắc
này. “Những ai quen Quang Dũng đều biết anh là một người vui tính, giỏi khôi hài, một thứ

khôi hài thông minh & phúc hậu. Anh đến đâu là vui đấy, chun trị rơm rả, tiếng cười trong
trẻo ấm áp nổi lên, người lớn con nít đều khối” [71, tr.36].
Sau hai năm gắn bó với đồn binh Tây Tiến, biết bao kỷ niệm vui buồn đọng lại trong ký
ức người đại đội trưởng Quang Dũng. Cuối năm 1948, ông chuyển sang đơn vị khác, về làm
trưởng tiểu ban tuyên huấn của trung đoàn 52, rồi làm trưởng đoàn văn nghệ liên khu III. Rời
xa đon vị cũ chưa bao lâu, về dự hội nghị toàn quân tại làng Phù Lưu Chanh, kỉ niệm một thời
thiếu thốn, gian khổ mà hào hùng áp về, ông viết bài thơ “Tây Tiến”.
Quang Dũng là người có năng khiếu hội họa, đi đến đâu, trong ba lô của ông, bên cạnh
cây bút sắt để ghi chép, làm thơ, viết truyện là cây bút lông để vẽ tranh. Cái tài vẽ tranh này đã
20

giúp cho Quang Dũng rất nhiều khi làm thơ. Chính vì vậy đến với thơ ơng, người đọc có cảm
nhận như mình đang ngắm một bức tranh màu nước với những chi tiết cụ thể, với sự hài hòa
của màu sắc, nghe được âm thanh và ngửi thấy mùi vị. Đây là bức tranh được ông ghi lại trên
những chặng đường cơng tác:
Long lanh bóng núi in sơng biếc
Buồn nhớ thương ai lòng hiu hiu?
Quạnh quẽ sắn nương rờn nắng ấm
Ngõ trúc người ơi! Tịch mịch chiều
(Thu)
Là một con người phóng khống, đơn hậu, chân thành, ngay thẳng, khơng ham danh lợi,
Quang Dũng sống tuềnh tồng, khơng hề bon chen. Điều này đã in đậm trong thơ ông. Quang
Dũng chỉ làm thơ theo cảm hứng, chỉ viết những điều mình thích, tâm đắc.
Quang Dũng lớn lên khi trào lưu văn học lãng mạn đang diễn ra một cách mạnh mẽ. Là
một thanh niên có học, ơng sớm tiếp thu những tinh hoa của trào lưu văn học mới này. Lại
được kế thừa dòng máu lãng mạn của con người Sơn Tây, của những lớp đàn anh như Tản Đà,
Quang Dũng rất mê nhân vật Dũng của Nhất Linh. Ông yêu thơ Nguyễn Nhược Pháp, Nguyễn
Bính, Đồn Văn Cừ… Dịng máu giang hồ nay được nuôi dưỡng bởi văn chương lãng mạn đã
tạo nên cái dung mạo cá nhân, cái phong cách văn chương của Quang Dũng. Cũng chính cái

chất lãng mạn tiểu tư sản của con người Quang Dũng đã in đậm vào thơ ông mà một thời ông
đã phải chịu lao đao, lận đận. Bước vào cuộc kháng chiến cái gì cũng cần mạch lạc, đơn giản,
người ta tránh nói đến tình u, nỗi buồn, cái chết và những lạc thú cá nhân. Song, vì cái bản
tính chân thật, ngay thẳng cuộc sống diễn ra như thế nào thì nói vậy, viết vậy. Vì vậy, những
câu thơ như: “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” (Tây Tiến), hay: “Khi anh đã về xa/ Chị dọn
hàng đi ngủ/ Chép miệng trong hơi chăn/ Chị buồn chi khơng rõ” (Lính râu ria), một thời bị
phê phán mạnh mẽ.
Tháng 8 năm 1951, người đại đội trưởng Tây Tiến năm xưa xuất ngũ. Tuy rời qn đội
nhưng “Áng mây trắng xứ Đồi” ln có mặt cùng những đồn dân cơng thồ gạo ra chiến

21

trường, mang đạn lên tiền tuyến. Ông vẫn cùng với các đơn vị bộ đội hành quân, chiến đấu.
Dấu chân ông in đậm trên nhiều vùng đất mà con đường Mười Hai đi qua.
Sau hịa bình (1954), ơng chuyển về hội nhà văn, làm công tác biên tập văn nghệ ở các
báo và ở nhà xuất bản. Những năm tháng sống giữa Hà Nội, ông luôn khao khát những chân
trời xa lạ, muốn tắm mình trong khơng gian rộng lớn của rừng, của biển, không chấp nhận cuộc
sống chật chội nơi phố hẹp.
Năm 1978, Quang Dũng nghỉ hưu và ông mất ngày 13 tháng 10 năm 1988 sau mấy năm
trời bị tai biến.
Giờ đây nhà thơ xứ Đồi khơng cịn nữa, áng mây trắng từ đỉnh núi Ba Vì kia đã vĩnh
viễn bay về chốn bồng lai. Không biết ở nơi hư vơ kia, áng mây trắng xứ Đồi có bồng bềnh,
phiêu bạt khắp rộng dài đất nước? Chỉ biết một điều, trên bầu trời văn học Việt Nam hiện đại
vẫn sáng mãi một vầng trăng thi ca của người thi sĩ xứ Đồi.
1.1.2. Q trình sáng tác
Quang Dũng là một nghệ sĩ đa tài, ông sáng tác nhiều thể loại: thơ, văn, nhạc, tranh. Ở
lĩnh vực nào, ông cũng để lại dấu ấn cá nhân rất rõ nét. về âm nhạc, nhắc đến Quang Dũng là
người yêu nhạc nhớ tới “Ba Vì mờ cao”, Một bài hát đã lắng sâu trong tâm hồn của lớp thanh
niên từng giã nhà đi kháng Pháp. Ở lĩnh vực hội hoạ, Quang Dũng là tác giả của nhiều bức

tranh, chủ yếu là tranh lụa vẽ phong cảnh. Về văn chương, ông là tác giả của nhiều bài thơ nổi
tiếng như: Tây Tiến, Mắt người Sơn Tây, Những làng đi qua, Đường trăng… và nhiều tập
truyện kí. Viết khá nhiều nhưng ơng chẳng bao giờ có ý thức vun vén, tạo dựng cho mình một
sự nghiệp. Ông chẳng chuyên tâm đến việc xuất bản, in ấn và lưu giữ. Vì thế, các sáng tác của
ông cứ vương vãi, bị thất lạc. Các sáng tác còn lại của Quang Dũng chủ yếu được lưu giữ qua
bạn bè, qua kí ức của người đọc. Gần nửa thế kỉ lao động nghệ thuật, Quang Dũng vẫn chỉ là
chủ nhân của một gia tài không mấy lớn lao so với những nhà văn cùng trang lứa, cùng thời với
ơng. Đó là ba tập thơ và năm tập truyện kí. về thơ có ”’Bài thơ Sơng Hồng” (1956), “Rừng biển
quê hương” (in chung với Trần Lê Văn – 1957), “Mây đầu ơ” (1986). Cịn văn xi có “Mùa
hoa gạo” (1950), “Đường lên Châu Thuận” (1964), “Rừng về xuôi” (1968), “Nhà đồi” (1970),
“Một hành trình Cao Bắc” (1983).
22

Quang Dũng đến với thơ từ rất sớm. Trước cách mạng tháng Tám, ông xuất hiện trên thi
đàn lúc mười sáu tuổi với bài thơ “Chiêu quân” (1937). Cảm xúc của bài thơ khởi nguồn từ một
buổi lễ lịch sử của Trung Hoa: Nàng Chiêu Quân bị cống Hồ. Với thể thơ thất ngôn cổ kính,
nhịp điệu trầm lắng, giọng thơ nghẹn ngào, bài thơ trổ tài niềm thông cảm, lịng xót xa đối
với nàng Chiêu Qn. Ngay từ bài thơ đầu tay người xem đã thấy hiện ra ở Quang Dũng một
hồn thơ đằm thắm mà tinh tế, hồn hậu mà tài hoa đưa 1 chiều sâu nhân bản. Sau đó ít lâu,
năm 1940, Quang Dũng cho ra mắt bài thơ “Cố quận”. Bằng âm hưởng cổ kính, bài thơ thể
hiện một tâm hồn đồng hành tha thiết với nơi chơn nhau cắt rốn, nặng lịng với {q} hương xứ sở.
Nhìn chung trước cách mạng tháng Tám, Quang Dũng sáng tác chưa nhiều & người xem cũng
ít biết tới tên tuổi ông.
Sau cách mạng tháng Tám, Quang Dũng tham gia làng thơ cách mạng với bài thơ “Tây
Tiến” (1948). Bài thơ được ông viết sau một thời gian xa rời đoàn binh Tây Tiến. Ngay từ khi
mới ra đời, bài thơ đã làm say mê độc giả trong và ngoài quân đội. Bài thơ là đỉnh cao của thơ
ca chống Pháp. Bài thơ được nhà xuất bản vệ quốc quân Liên khu III in lần đầu tiên vào năm
1949 với nhan đề “Nhớ Tây Tiến”. Đến năm 1957, khi đưa vào tập ”Rừng biển quê hương”,
Quang Dũng đã bỏ đi chữ nhớ. Bài thơ đưa tên “Tây Tiến” từ đó. “Tây Tiến” là bài thơ tiêu

biểu nhất của đời thơ Quang Dũng.
Sau “Tây Tiến”, Quang Dũng tiếp tục viết nhiều thơ về người lính như: Những làng đi
qua, Quán nước, Nhớ, Lính râu ria, Đường trăng, Đường 12… Nhìn chung, các bài thơ viết về
người lính của Quang Dũng có sự giao lưu, hịa nhập giữa yếu tố hiện thực hà khắc với tâm
hồn hữu tình, giữa vẻ đẹp chất phác bình dân với tài hoa tinh tế. Những bài thơ này đã góp vào
nền thơ ca kháng chiến một gương mặt, một phong thái mới lạ. Quang Dũng là người lính cầm
bút, ơng hiểu biết sâu sắc về cuộc đời & tâm hồn người lính. Chính vì vậy, những bài thơ viết về
người lính của ơng rất chân thực được người xem yêu mến.
Bên cạnh mảng thơ viết về người lính, Quang Dũng có một số bài thơ viết về {q} hương
xứ Đồi, về những mảnh đất mà ơng từng đồng hành, về những nhân loại mà ơng từng gặp mặt.
Tiêu biểu cho mảng thơ đó là các bài như: Mắt người Sơn Tây, Thu, Những cô hàng xén, Ba
ìón Bác, Mái nhà đêm Bạch Hạc, Nhớ một bóng núi… “Quang Dũng dành những dòng cảm
động nhất viết về quê hương, đất nước đặc biệt là xứ Đoài mà ông luôn khắc khoải thương
23

nhớ” [48, tr.622]. Với những bài thơ đằm thắm, hồn hậu này, Quang Dũng đã góp vào thơ Việt
Nam “những bức tranh quê” chân tài.
Thơ tình cũng là mảng khá thành công trong sự nghiệp thơ ca Quang Dũng. Tuy viết về
chủ đề này khơng nhiều (2 bài có tên “Khơng đề” & 1 bài có tên “Vườn ổi”) song những bài thơ
này đã để lại trong tâm hồn người xem ấn tượng khó phai. Tình thực, cảm hứng thực & những
rung động tinh tế tạo ra sắc thái riêng của thơ tình Quang Dũng.
Sau 1975, Quang Dũng cũng tiếp tục đi nhiều, viết nhiều nhưng các sáng tác của ông chủ
yếu là chuyên mục bút kí. Ở ngành nghề thơ, tiêu biểu là bài “Nhớ một bóng núi” vẫn một tấm chân tình hồn
hậu, tha thiết với quê hương xứ Đoài yêu dấu.
Năm 1986, nhà xuất bản “Tác phẩm mới” cho ra mắt tập thơ “Mây đầu ô” do Trần Lê Văn
sưu tầm & tuyển chọn. Tập thơ được tuyển lại từ 46 bài thơ của đời thơ Quang Dũng. Với 22
bài thơ, “Mây đầu ô” đã mang đến cho người xem phần tốt đẹp nhất của tâm hồn & cá tính sáng
tạo của Quang Dũng. Trong số 22 bài thơ đó có 8 nội dung trong kháng chiến chống Pháp & 14
nội dung sau 1954. Đối với các nhà thơ cùng thời số lượng thơ ca của Quang Dũng thật khiêm tốn

song nhắc đến những nhà thơ tiêu biểu trong hai cuộc kháng chiến người xem chẳng thể không
nhắc đến ông.
1.2. Nguồn thi cảm trong thơ Quang Dũng
1.2.1. Nguồn thơ viết về quê hương quốc gia
Quê hương, quốc gia là một trong những nguồn xúc cảm cốt yếu của thơ ca. Điều này,
nó như một lẽ đương nhiên. Bởi ai ra đời mà chẳng có một miền quê, ai lớn lên mà chẳng đồng hành
với một dịng sơng, ngọn núi, lũy tre, rặng dừa… Quê hương là dòng sữa ngọt ngào nuôi dưỡng
tâm hồn nhân loại, đặc biệt là so với người nghệ sĩ. Trong tâm linh của người phương Đơng nói
chung & người Viet Nam nói riêng, {q} hương là nơi chôn nhau cắt rốn, là máu thịt của mỗi
người. Nhân loại có thể đi nhiều nơi, sống nhiều chỗ, đồng hành với nhiều mảnh đất khác nhau
nhưng trong đáy sâu tâm hồn vẫn luôn chất chứa một nỗi nhớ, niềm thương tha thiết so với
quê hương mình. Chẳng vậy mà những câu ca dao thân thuộc nhất, đọng lại trong kí ức của con
người biết bao đời nay là những dòng viết về quê hương, xứ sở thân yêu:
Anh đi anh nhớ quê nhà
24

Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương
Nhớ ai dãi nắng dầm sương
Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao
Từ xưa đến nay, làng quê Viet Nam đi vào thơ như một cái đẹp văn hóa. Tất cả chúng ta có cả
một kho báu ca dao – dân ca rất đa dạng về {q} hương quốc gia. &, tất cả chúng ta cịn có một
nền văn học viết với những cây viết rực rỡ khi viết về chủ đề này. Từ Nguyễn Trãi (1380 1442), Thái Thuận (1441 – ?), Lê Thánh Tông (1460 – 1497), Nguyễn Khuyến (1835 -1909)
đến những nhà thơ của trào lưu thơ mới như Nguyễn Bính, Đồn Văn Cừ, Anh Thơ, Nguyễn
Nhược Pháp rồi cả một thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến như Hồng
Cầm, Nguyễn Đình Thi, Quang Dũng, Giang Nam, Lê Anh Xuân…
Hòa vào dòng chảy của thơ ca trong hai cuộc kháng chiến, Quang Dũng – nhà thơ xứ Đoài
được nhiều thế hệ bạn đọc yêu mến với nhân cách là thi sĩ có nhiều sáng tác thành cơng về {q}
hương, quốc gia: “Thơ Quang Dũng làm phong phú thêm bộ sưu tập những vẻ đẹp của làng
quê mà Nguyễn Nhược Pháp, Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đồn Văn Cừ… từng đóng góp” [74,

Xem Thêm  CSS. Tất cả các cách để căn chỉnh các phần tử sang trái và phải. - phần tử css căn phải

tr.436]. Phần đông thơ Quang Dũng đều ẩn chứa hình bóng {q} hương, quốc gia lúc là những
địa danh rõ ràng và cụ thể, lúc là những kí ức sâu lắng. Cũng như nhiều nhà thơ khác, quê hương là một
thứ ánh sáng diệu kì, là nguồn năng lượng vơ tận đã chắp cánh cho những vần thơ Quang Dũng
lan toa, lung linh. Nhận xét về nguồn thi cảm này trong tập “Mây đầu ô”, nhà tìm hiểu
Nguyễn Xuân Nam viết: “Điều đầu tiên mà ta quý “Mây đầu ô” là ở mảng chất liệu quê hương
mà nhà thơ đã tắm mình trong thơ” [4, tr.8].
Có thể nói lịng u nước trong thơ Quang Dũng được khơi nguồn từ tiếng gọi quê hương.
Song sàng lọc được cái hồn quê, tạo được một khơng khí {q} hương từ những cảnh vật đơn sơ
để nó trở thành thơ & đi vào lịng người thì quả là điều không dễ. Bởi vậy giới văn nghệ thơ là
toàn cầu tâm linh của Author, “Là nghệ thuật bên trong của tâm hồn”. Thơ là một chuyên mục văn
học đặc trưng. Suy nghĩ hình mẫu trong thơ cũng có những nét đặc trưng riêng. Nhà thơ suy nghĩ
bằng tâm hồn tràn trề cảm tình, cảm hứng: “Tình cảm trong thơ là nhân tố trực tiếp xây dựng
hình tượng thơ”[21, tr.171]. Chính tấm lịng u mến tha thiết quê hương cho nên hình ảnh
đồng Bương Cấn, núi Sài Sơn, đỉnh Ba Vì, dịng sơng Đáy, vầng trăng, tiếng sáo… cứ trở đi trở
lại trong thơ Quang Dũng. Một trong những nguồn thi cảm chính làm nên giá trị thơ Quang
25

4.3. Phương pháp miêu tả, so sánh đối chiếu ………………………………………………………….. 154.4. Phương pháp hệ thống …………………………………………………………………………………… 155. Một số đóng góp của luận văn ……………………………………………………………………………… 156. Kết cấu của luận văn …………………………………………………………………………………………… 16CHƯƠNG 1: CUỘC ĐỜI, QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC VÀ NGUỒN THI CẢM TRONGTHƠ QUANG DŨNG ………………………………………………………………………………………………… 171.1. Cuộc đời và quá trình sáng tác…………………………………………………………………………… 171.1.1. Cuộc đời ……………………………………………………………………………………………………. 171.1.2. Quá trình sáng tác ………………………………………………………………………………………. 221.2. Nguồn thi cảm trong thơ Quang Dũng ……………………………………………………………….. 241.2.1. Nguồn thơ viết về quê hương đất nước ………………………………………………………….. 241.2.2. Cảm hứng khát vọng lên đường ……………………………………………………………………. 29CHƯƠNG 2: HÌNH TƯỢNG THƠ TRONG THƠ QUANG DŨNG ……………………………. 342.1. Hình tượng thơ ………………………………………………………………………………………………… 342.2. Hình tưọng thơ trong thơ Quang Dũng ……………………………………………………………… 352.2.1. Hình tượng q hương…………………………………………………………………………………. 362.2.2. Hình tượng người lính …………………………………………………………………………………. 50CHƯƠNG 3: NGÔN NGỮ THƠ VÀ THỂ THƠ TRONG THƠ QUANG DŨNG…………. 643.1. Ngôn ngữ thơ trong thơ Quang Dũng ………………………………………………………………… 643.1.1. Nghệ thuật dùng từ dân dã, từ chỉ địa danh ……………………………………………………. 653.1.2. Nghệ thuật sử dụng từ láy và điệp hình ảnh……………………………………………………. 713.2. Thể thơ trong thơ Quang Dũng …………………………………………………………………………. 763.2.1. Thơ tự do……………………………………………………………………………………………………. 763.2.2. Thơ bảy tiếng ……………………………………………………………………………………………… 813.2.3. Thể thơ năm tiếng ……………………………………………………………………………………….. 86KẾT LUẬN ……………………………………………………………………………………………………………….. 89TÀI LIỆU THAM KHẢO ………………………………………………………………………………………….. 91MỞ ĐẦU1. Lý do chọn đề tài1.1. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ để bảo vệ nền độc lập đã điểmvào trang sử hào hùng của dân tộc những vết son chói lọi, ghi dấu thời kỳ đau thương nhưng vôcùng anh dũng của nhân dân ta. Ba mươi năm chưa hẳn đã là khoảng thời gian dài so với lịchsử bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước. Song nó cũng đủ để dân tộc ta làm nên những “chấnđộng trái đất”, cũng đủ để bộc lộ hết vẻ đẹp tâm hồn và lòng dũng cảm của con người ViệtNam. Chiến tranh cũng đã kết thúc bằng ngần ấy thời gian nhưng dư âm của nó vẫn đọng lạitrên từng trang thơ. Trong khoảng thời gian ba mươi năm đó, nền thơ ca Việt Nam đã gặt háiđược nhiều thành tựu vô cùng rực rỡ. Thơ ca đã thực sự trở thành sức mạnh tinh thần góp phầnlàm nên thắng lợi vẻ vang của dân tộc ta. Có thể nói, chưa bao giờ nền văn học nước nhà lạixuất hiện một đội ngũ nhà thơ đông đảo và nhiều thế hệ như ở thời kỳ này. Bên cạnh lớp nhàthơ thành danh từ trước Cách mạng như: Tố Hữu, Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế LanViên, Nguyễn Bính, Tế Hanh,… một thế hệ nhà thơ xuất hiện ngay từ hồi đầu cuộc kháng chiếnchống Pháp và đã nhanh chóng khẳng định mình trên diễn đàn thi ca như: Hồng Cầm, NguyễnĐình Thi, Hồng Trung Thơng, Chính Hữu, Hồng Ngun, Hồng Lộc, Trần Hữu Thung,Minh Huệ,… Trong số đó khơng thể khơng kể đến nhà thơ Quang Dũng.1.2. Bên cạnh những đóng góp đáng kể trong lĩnh vực văn xuôi, Quang Dũng xuất hiệntrong nền văn học hiện đại dân tộc với tư cách là một nhà thơ bằng một hồn thơ độc đáo, riêngbiệt. Trải qua hơn nửa thế kỷ với biết bao thăng trầm và đầy thử thách, Quang Dũng vẫn giữmột vị trí quan trọng trong tiến trình văn học Việt Nam nói chung và thơ ca hiện đại của dântộc nói riêng. Thơ ơng đã phản ánh một chặng đường lịch sử đau thương mà hào hùng của dântộc trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại. Thơ ông đã để lại ấn tượng tốt đẹp và niềm say mê tronglòng người yêu thơ qua nhiều thế hệ mặc dù trong một thời gian dài bị nghi kị, quy chụp. Tácphẩm của ông từ lâu đã được đưa vào giảng dạy ở nhà trường phổ thông là một minh chứnghùng hồn cho điều đó. Nghiên cứu về: “Đặc điểm thơ Quang Dũng” sẽ góp thêm phần khẳng địnhtài năng của ơng trong ngành nghề thơ ca, làm sống lại một tâm hồn chân thật, hồn hậu mà hàohoa, hữu tình – một tâm hồn tiêu biểu cho một thế hệ trưởng thành trong bão táp của cáchmạng tháng Tám & được tôi rèn, thử thách qua hai cuộc kháng chiến.1.3. Quang Dũng là nhà thơ trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống Pháp cùng vớinhững diện mạo tiêu biểu như: Nguyễn Đình Thi, Chính Hữu, Hồng Ngun, Hồng TrungThơng, Hồng cầm, Hồng Lộc, Hữu Loan,… Ơng đã góp vào nền thơ ca hiện đại một tiếng nóikhá tách biệt bằng chất thơ hào hoa, hữu tình của một nghệ sĩ đa tài. Thơ Quang Dũng ra đờiđã sớm thu được sự quan tâm, động viên của bạn đọc. Đặc biệt là kể từ khi bài thơ “Tây Tiến” xuấthiện.Tuy thế, việc tìm hiểu thơ Quang Dũng trong nhiều năm qua cịn rất ít ỏi & tản mạn.Thiết nghĩ, so với một hồn thơ như Quang Dũng cần tiếp tục được tìm hiểu một cách tồndiện & có hệ thống. Từ những nguyên nhân trên, chúng tôi chọn chủ đề: “Đặc điểm thơ Quang Dũng”trên nền tảng tiếp thụ có sàng lọc những cơng trình tìm hiểu của những người đi trước vớimong mong muốn làm rõ hơn địa điểm & những đóng góp khẳng định của ơng trong dịng chảy của nềnthơ ca Viet Nam hiện đại. Cùng lúc góp một phần hữu hiệu & thiết thực trong việc giảng dạythơ Quang Dũng trong gia đình trường phổ thông.2. Hạn chế đề tài2.1. Mục đích nghiên cứuĐặt Quang Dũng trong công cuộc thơ ca Viet Nam hiện đại, từ việc thăm dò, nghiên cứuvăn bản thơ có kết phù hợp với các yếu tố niên đại, thân thế, cảnh ngộ cá nhân nhà thơ, chúng tôihướng tới xác nhận đặc điếm thơ Quang Dũng & cam đoan những đóng góp của ơng cho nềnvăn học nói chung & thơ ca Viet Nam hiện đại nói riêng.Để làm rõ điều này, chúng tơi liên hệ, so sánh với một số nhà thơ cùng thế hệ với ơngnhư: Nguyễn Đình Thi, Chính Hữu, Hồng Cầm, Hồng Trung Thơng, Hồng Ngun, HồngLộc,… ở một số vấn đề rõ ràng và cụ thể như: hình mẫu quê hương, quốc gia; hình mẫu người lính;ngơn ngữ thơ…2.2. Đối tượng nghiên cứuLà một nghệ sĩ đa tài, Quang Dũng đã đóng góp cho nền văn học văn nghệ nước nhàtrên nhiều ngành nghề: văn, thơ, nhạc, họa. Ở ngành nghề nào, ông cũng gặt hái được những thànhcông đáng kể. Nhưng, thơ ca mới chính là vùng đất giàu tài nguyên nhất để ông thoa sức gieo trồng vàgặt hái những hạt giống tâm hồn. & chỉ ở thơ ông, người xem mới nhận dạng rõ nhất con ngườinhà thơ Quang Dũng – một tâm hồn chân thật, hồn hậu đưa nhiều ước mong khát vọng, lắm suytư, trằn trọc nhưng cũng tương đối cất cánh bổng, phiêu lãng. “Quang Dũng ỉa một nghệ sĩ đa tài. Ông làmthơ, viết văn, vẽ tranh và soạn nhạc… Ở lĩnh vực nào cũng có những thành ụni đáng kể, nhưngnoi bật hơn cả vẫn là thơ” [48, tr.622]. Ở luận văn này, chúng tôi cốt yếu tìm hiểu QuangDũng với nhân cách một nhà thơ.Sự nghiệp sáng tác thơ của Quang Dũng trải dài qua ba công đoạn của nền văn học hiệnđại dân tộc. Trước 1945, Quang Dũng hiện ra trên thi bọn với một số bài thơ như: “ChiêuQuân”, “Cố Quận”. Sau 1975, Quang Dũng vẫn tiếp tục sáng tác, trong đó tiêu biểu đặc biệt là bàithơ: “Nhớ một bóng núi”.Cịn lại, sự nghiệp thơ ca của ơng cốt yếu được sáng tác trong ba mươi năm chiến tranhvà được tuyển chọn lại trong tập “Mây đầu ô” xuất bản năm 1986, với chỉ vẻn vẹn hai mươi haibài thơ. Một tập thơ riêng mà cho tận đến những năm cuối đời, người bạn bè đứng ra in ơngmới có được. Ơng chẳng lúc nào có ý thức vun vén, hình thành cho mình một sự nghiệp. Vì thếthơ ơng cứ vương vãi khắp mọi nơi trên những hành trình phiêu lãng, qua những chuyến hành trình củaơng. Có thể nói, số lượng thơ của Quang Dũng khơng nhiều. Tính hết thảy cũng chỉ chưa đầynăm chục bài nhưng ơng đã góp vào nền thơ ca hiện đại nước nhà một tiếng nói tách biệt, độcđáo. Nhận xét về sự nghiệp thơ ca của Quang Dũng, nhà tìm hiểu văn học Văn Giá viết:”Bây giờ thì áng mây trắng Xứ Đồi Quang Dũng vẫn cứ lãng đãng ngang trời, phủ một bóngmát lớn xuống nền thơ Việt Nam hiện đại” [22, tr.9]. Cùng chấp nhận với quan niệm này, nhà nghiêncứu Nguyễn Xuân Nam viết: “Nền thơ mới của chúng ta cần nhiều nhà thơ tốt và khác nhau.Quang Dũng không phải là người viết nhiều, in nhiều. Nhưng với “Mây đầu ô” anh đã đưa đếncho chúng ta phần tắt đẹp nhất của tâm hồn mình, của cá tính sáng tạo của mình” [74, tr.439].Ở luận văn này, chúng tơi cốt yếu đề cập đến những tác phẩm thơ được Quang Dũng sáng táctrong hai cuộc kháng chiến, được in trong các tập: “Bài thơ sông Hồng” (1956), “Rừng biển quêhương” (1957), “Mậy đầu ô” (1986).3. Lịch sử vấn đề3.1. Mở đầuNhớ lại đời thơ Quang Dũng, nhà thơ Trần Lê Văn viết trong lời giới thiệu “Tuyển tậpQuang Dũng” xuất bản 1999: “Trước Tây Tiến, Quang Dũng đã làm thơ. Trong những bài thơđầu tay của anh, có bài có thể coi như tiếng dạo đàn (…). Tuy nhiên, đến “Tây Tiến”, QuangDũng mới bắt đầu khẳng định được minh, bắt đầu bộc lộ sự hĩnh thành một phong cách thơ,một diện mạo thơ” [69, tr.23].Quang Dũng đến với thơ rất sớm. Ông tham gia làng thơ với bài thơ “Chiêu Quân” đượcviết năm 1937, khi mới mười sáu tuổi. Nhưng Quang Dũng chỉ thực sự được khẳng định và nổitiếng với bài thơ “Tây Tiến” (1948). Ngay từ khi mới ra đời, bài thơ “Tây tiến” đã gây một tiếngvang lớn. Nó làm say mê độc giả trong và ngoài quân đội, nó thu hút sự chú ý của giới nghiêncứu, song chẳng bao lâu bài thơ bị cấm lưu hành. Và cùng số phận với bài thơ, nhà thơ QuangDũng cũng ít được nhắc đến. Trong khoảng vài chục năm trở lại đây, kể từ khi đổi mới, trêndiễn đàn văn học xuất hiện nhiều bài nghiên cứu, phê bình của các nhà nghiên cứu, các nhà thơ,nhà văn và bạn bè của Quang Dũng viết về ông. Đánh giá về sự nghiệp thơ Quang Dũng, nhànghiên cứu văn học Văn Giá viết: ”’Khơng thể nói là đã có một sự nghiệp bề thế, số lượng vănphẩm thì cũng thường thường, ấy thế mà Quang Dũng cứ có một chỗ đứng chắc nịch trong nềnthơ ca hiện đại” [22, tr.7].Trong phạm vi giới hạn của luận văn, chúng tôi sẽ lần lượt điểm qua một số cơng trìnhnghiên cứu, phê bình về thơ Quang Dũng có liên quan đến đề tài nghiên cứu. Trên cơ sở đó,chúng tơi đưa ra các ý kiến đánh giá về đặc điểm nội dung và nghệ thuật thơ Quang Dũng. Từđó, giúp chúng tơi có cái nhìn tồn diện về đặc điểm thơ ơng.Tính đến nay, thơ Quang Dũng được tìm hiểu và nghiên cứu trên nhiều phương diện vớimức độ đậm nhạt khác nhau. Nhìn chung, giới nghiên cứu tiếp cận thơ ơng theo hai hướng.Hướng thứ nhất, đi vào giới thiệu, cảm nhận, đánh giá chung về thơ Quang Dũng dựa trên cuộcđời và con người nhà thơ. Hướng thứ hai, đi vào phân tích, thẩm bình một số bài thơ cụ thể đểlàm tư liệu trong nhà trường. Để hình dung cụ thể, trong phần lịch sử vấn đề, chúng tôi đi vàotrình bày các hướng tiếp cận thơ Quang Dũng, và từ đó có một cách đánh giá đúng đắn, hợp lývề đặc điểm thơ Quang Dũng và những đóng góp của ông đối với nền thơ ca hiện đại.3.2. Các hướng tiếp cận thơ Quang Dũng3.2.1. Hướng tiếp cận đi vào giới thiệu cảm nhận, đánh giá chung về thơ Quang Dũngdựa trên cuộc đời và con người của nhà thơTheo hướng này có các bài nghiên cứu, giới thiệu của các nhà nghiên cứu, các nhà thơ,nhà văn và bạn bè thân thiết với Quang Dũng như: Trần Lê Văn, Ngơ Qn Miện, Hồng NhưMai, Mai Hương, Thanh Châu, Nguyễn Xuân Nam, Phong Lê, Đỗ Lai Thúy, Văn Giá, HồiViệt, Lữ Giang, Lê Bảo, Vân Long,… Nhìn chung, các bài viết từ nhiều hướng cảm nhận đánhgiá khác nhau, các tác giả đã giới thiệu cùng người đọc những ấn tượng chung về thơ QuangDũng trên hai phương diện nội dung và nghệ thuật. Trong bài viết “Về Quang Dũng”, nhà thơTrần Lê Văn, người bạn thân thiết gắn bó với Quang Dũng, đã giới thiệu khá đầy đủ về nhà thơtừ tiểu sử, gia cảnh, đặc điểm con người cho đến sự nghiệp sáng tạo nghệ thuật của ông. Saukhi đánh giá đỉnh cao “Tây Tiến” trong sự nghiệp thơ ca Quang Dũng, Trần Lê Văn đi vào phântích bài thơ gắn với hồn cảnh ra đời của nó. Trên cơ sở đó, ơng khẳng định giá trị và nhữngđóng góp lớn lao của “Tây Tiến”. Tiếp theo, Trần Lê Văn giới thiệu một số bài thơ mà ơng tâmđắc như: “Những làng đi ngang qua”, “Lính râu ria”, “Bất Bạt đêm giao quân” và “Mây đầu ô”. Từđó, ông đặt ra một số đặc điểm về bài viết & văn nghệ của thơ Quang Dũng & một lần nữaphủ nhận những quan niệm một thời cho là thơ Quang Dũng là loại thơ “lãng mạn tiểu tư sản”,thơ “lính cậu”, “mang tư tưởng buồn rớt”.Với chí lớn ấy, Quang Dũng & những người cùng lứa tuổi với anh đi theo Cách mạng,vào làng thơ cách mạng; dù có cơn gió hữu tình ruối theo thì cũng là gió thuận, gió mạnh, gióđẩy cánh buồm. Cái hữu tình ấy – trong phần tốt đẹp của nó – dễ gặp, dễ hoa nhập với lãngmạn cách mạng [69, tr.32-33]. Đây là một tư liệu quý, rất đáng quan tâm. Nó giúp cho ngườiviết luận văn này có cái nhìn tương đối hồn chỉnh khi đi vào tìm hiểu, tiếp cận thơ QuangDũng từ góc độ bản thể.Ngơ Qn Miện khi bàn về tập “Mây đầu ơ” có những đánh giá rất tinh tế: “Quang Dũnglà một tâm hồn thơ đa cảm, thơ anh đầy cảm xúc, đầy tình cảm, nó là thứ thơ mà người ta gọilà tự phát (spontané) cứ như anh khơng hề có ý làm thơ” [71, tr.12], hay ở một chỗ khác ôngviết: “Thơ Quang Dũng đi vào tâm hồn người đọc khá hồn nhiên và thâm sâu” [71, tr.12]. Cùngchia sẻ với đánh giá này của Ngô Quân Miện, Nguyễn Xuân Nam, trên tuần báo Văn nghệ, số33, ngày 16-8-1986 đã viết: “Quang Dũng làm thơ hồn nhiên {q}. Anh chỉ biết viết cái mìnhvốn có, cái mình đang có, cả mặt mạnh & mặt yếu, một cách chân tình” [74, tr.438]. Ở bàiviết này, Nguyễn Xuân Nam giới thiệu đến người đọc tập “Mây đầu ô”. Và khi đánh giá tậpthơ, ông viết: “Quang Dũng không viết những câu chung chung, thường viết những câu thơnhiều cụ thể rõ ràng và cụ thể xem xét được. Nhiều cụ thể nổi rõ lên với màu sắc, tiếng động, hương vị”[74, tr.435]. Hay khi bàn về cảm hứng trong tập thơ này, Nguyễn Xuân Nam viết: “Thơ QuangDũng làm đa dạng thêm bộ sưu tập những vẻ đẹp của làng quê… mà Nguyễn Nhược Pháp,Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đồn Văn Cừ từng có đóng góp” [74, tr.437].Tâm đắc với chất lãng mạn của hồn thơ Quang Dũng, trong bài viết: “Sau mười năm: đọclại Mây đầu ô”, nhà thơ Vân Long có một nhận xét khá tinh tế: “Cái gì hồnh tráng, bi lụy,xanh thẳm, ngút ngàn… mới là vòm trời của cánh cất cánh Quang Dũng” [44, tr.48]. Để làm cơ sởcho đánh giá đó, Vân Long đã phân tích một số bài thơ như: Tây Tiến, Những làng đi qua, BấtBạt đêm giao quân, Đường trăng,… Từ đó, nhà thơ xem “Mây đầu ô” là một “dãy núi nhấpnhô” với những đỉnh cao như Tây Tiến, Mắt người Sơn Tây,…Và, ông cho rằng tập thơ đã đánhdấu một bước chuyển của thi pháp thơ Việt Nam.Trân trọng với một tính cách chân thành và một hồn thơ lãng mạn, Văn Giá cho rằng:”Quang Dũng: Áng mây trắng xứ Đoài”. Quang Dũng sinh ra để làm một kiếp mây. “Hình ảnhmây đã ám vào định mệnh thi ca này như một số phận, như một phán quyết của thượng giới vơhình không cưỡng lại nổi được ngay từ hồi mới bước vào nghiệp thơ kia” [22, tr.3]. Hay ở mộtchỗ khác ông lại viết: “Suốt một quãng đường hồn thơ Quang Dũng, mây đã biến thành một ámảnh bền chắc với nhiều biến hóa” [22, tr.4]. Để nhấn mạnh ý tưởng đó, một lần nữa Văn Giá lạigọi Quang Dũng là “Áng mây trắng mang hình thi sĩ” ơng viết:Thì ra vẫn là một đám mây mang hĩnh tráng sĩ phiêu bồng vào trận mạc. Cả lớp người tríthức đơ thị xếp bút nghiên lên đường chinh chiến sau mùa đông năm bốn sáu ấy trong cái nhìncủa nhà thơ đều là những đám mây mang hình tráng sĩ. Áng mây Quang Dũng hịa lẫn trongđội hình ấy [22, tr.4].Rồi, áng mây ấy đã sà xuống cõi nhân gian với một tấm lịng u mến, mê say cuộc sống:”Ơng vẫn làm một áng mây ơm ấp tình u, ấp iu cảnh quan đời thường” [22, tr.7]. Cùng chiasẻ với quan điểm này, Mai Hương nhận xét: “Có người làm thơ lấy cái chân làm gốc, lại có10người trọng sự tài hoa. Ở Quang Dũng là sự kết hợp tuyệt vời giữa vẻ đẹp chân chất, dân dãvới tài hoa tinh tế” [72, tr.22]. Đỗ Lai Thúy cũng gọi Quang Dũng là “Mây trắng xứ Đoài”. Ởbài viết này, ơng đi sâu tìm hiểu chất lãng mạn thấm đẫm trong con người thơ Quang Dũng:”Nghĩa là thơ ông vẫn ánh lên trong ánh sáng của mỹ học thơ mới” [64, tr.49]. Cùng nhất trívới ý kiến này, Nguyễn Đăng Mạnh trong bài “Quang Dũng, người thơ” đã viết: “Thơ QuangDũng có những bài thật hay. Cảm xúc hữu tình cuốn bốc dào dạt” [47, tr.l16]. Nhìn chung,các quan niệm trên là những đề xuất rất thiết thực & có ích cho chúng tơi khi đi sâu tìm hiểu đặcđiểm thơ Quang Dũng.Một trong những nội dung khá cơng phu trổ tài cái nhìn tương đối tồn diện về cuộc đờivà sự nghiệp của Quang Dũng này là nội dung của Lê Bảo. Ở phần đầu nội dung, Lê Bảo đã mang ramột đánh giá tổng quan về sự nghiệp sáng tác của Quang Dũng:Quang Dũng tự trổ tài tài năng của mình trên nhiều chuyên mục: vẽ tranh, soạn nhạc, viếttruyện, làm thơ. Riêng văn chương: viết truyện nhiều, ghi chép bằng văn xi nhiều, cịn thơ lạiít. Thế nhưng giá trị văn chương lại khơng tỉ lệ thuận với số lượng, bởi vậy cái còn sót lại củaQuang Dũng lại chính là thơ [4, tr.7].Từ nhận định chung đó, Lê Bảo đã đi sâu tìm tòi thơ Quang Dũng trên cả hai phươngdiện bài viết & văn nghệ. Bàn về bài viết thơ Quang Dũng, Lê Bảo cho là: “Thơ QuangDũng hội tụ được hai dòng thi cảm. Đất nước, quê hương cùng với khát vọng lên đường là cốtcách của một hồn thơ, một đời thơ ấy” [4, tr.7]. Nhận định này đã được nhà phê bình khai triểnở hai bài viết: Quốc gia, quê hương & khát vọng xuất phát. Nhận xét về nguồn thi cảm quêhương quốc gia, Lê Bảo đánh giá: “Quê hương, với Quang Dũng, đã là một gắn bó, một nângđỡ diệu kì, giúp một đời thơ vững bước. Quê hương với thi sĩ không chỉ là một tĩnh yêu, mà cònlà niềm tin” [4, tr.9]. Xem cảm hứng đất nước, quê hương với cảm hứng khát vọng lên đường làbiện chứng của tư duy hành động, nhà nghiên cứu đã đưa ra một đánh giá khái quát về nguồnthi cảm này trong thơ Quang Dũng: ”Khao khát lên đường với hào khí và lịng tự nguyện,khơng phải người lính khơng nghĩ đến hy sinh. Nhưng có hành động nào cao quý hơn hànhđộng xả thân cho lý tưởng” [4, tr.19]. về mặt nghệ thuật, Lê Bảo đã đi sâu khai thác cách xâydụng hình ảnh, ngơn từ, giọng điệu… và, ông có một nhận xét thật xác đáng: “Thơ Quang Dũngkết hợp được cốt cách cổ kính, hiện đại với sự cách tân, nghĩa là vừa kế thừa, vừa cải tiến” [4,11tr.23]. Nhìn chung, bài viết của Lê Bảo đã thể hiện một cái nhìn khá sâu sắc và tồn diện về thơQuang Dũng. Đây là chuyên luận rất bổ ích và thiết thực đối với chúng tôi khi thực hiện đề tàinày.3.2.2. Hướng tiếp cận đi vào phân tích thẩm bình một số tác phẩm cụ thểTheo hướng tiếp cận này, có một số bài viết của các nhà văn, nhà nghiên cứu được đăngtải trên các báo, tạp chí hay trên các tờ đặc san… tiêu biểu là các bài của: Hà Minh Đức, TrầnĐăng Xuyên, Nguyễn Đăng Mạnh, Vũ Quần Phương, Phong Lan, Trần Lê Văn,… Nhìn chung,các bài viết chủ yếu tập trung vào phân tích, thẩm bình bài thơ “Tây Tiến” và có đề cập đến vàibài thơ khác như: Mắt người Sơn Tây, Mây đầu ơ, Lính râu ria, Những làng đi qua, Khơngđề,…Có lẽ điều đó cũng dễ hiểu vì “Tây Tiến” chính là hồn thơ Quang Dũng. Khi nhận xét về“Tây Tiến”, nhà thơ Trần Lê Văn viết: “Quang Dũng vào làng thơ cách mạng với bài thơ “TâyTiến”. Như có một mối dun gì ràng buộc, bài thơ ấy đồng hành với người làm nên nó đến mức nóiđến Quang Dũng là người ta nhớ đến “Tây Tiến” & trái lại” [69, tr.19].Cùng chia sẻ với suy nghĩ đó của Trần Lê Văn, nhà nghiên cứu Phong Lan trên Tạp chívăn học, số 3 – 1990 cũng viết: “Quang Dũng như một nhà thơ là nhờ riêng một bài thơ TâyTiến ấy được sáng tác cách đây bốn mươi hai năm. Một bài thơ có sức sống bền lâu như vậy kểcũng lạ lùng & đáng cho nhiều nhà thơ hy vọng.” [71, tr.19]. Đây là một đánh giá tuy có hơiquá lời nhưng là một đánh đắt tiền so với “Tây Tiến”. Ở một chỗ khác, khi nhận xét về giá trịnội dung của bài thơ này, Phong Lan viết: “Có thể nói Tây Tiến – đó chính là một tượng đàibằng thơ bất tử mà nhà thơ Quang Dũng với tất cả tấm chân tình đã dựng nên để tưởng niệmnhững người chiến sĩ vơ danh đã hy sinh vì nước” [71, tr.24].Trong nội dung “Quang Dũng và Tây Tiến”, Trần Lê Văn nói rất rõ về hồn cảnh chào đời củabài thơ & cam đoan: “Bài thơ Tây Tiến nảy sinh trong những năm tháng không thể nào quên,từ một môi trường sổng chiến đấu cũng không thể nào quên” [71, tr.11]. Sau thời điểm nhận xét vềcái bi & cái hùng của bài thơ, Trần Lê Văn nhận định: “Bài thơ Tây Tiến có phảng phất nhữngnét buồn, những nét đau, nhưng đó là cái buồn đau bi tráng chứ không bi lụy” [71, tr.l4].12Cùng chia sẻ với nghĩ suy này, Trần Đăng Xuyên đi sâu nghiên cứu hai đặc điểm nổi bậtcủa bài thơ “Tây Tiến” là xúc cảm hữu tình & trí não bi lụy. Ơng cho là: “Tây Tiếnkhơng hề che dấu cái bi. Nhưng bi mà không lụy. Cái bi thể hiện bằng một giọng điệu, âmhưởng, màu sắc tráng lệ, hào hùng. Chất lãng mạn hòa hợp với chất bi tráng, tạo nên vẻ đẹpđộc đáo của bài thơ” [4, tr.38]. Hay ở một chỗ khác, khi đi sâu nghiên cứu hình mẫu người línhvà đồn binh Tây Tiến, Trần Đăng Xuyên viết:Quang Dũng đã sàng lọc, đã tinh lọc những nét tiêu biểu nhất của những người lính TâyTiến để tạc nên pho tượng đài tập thể đặng tổng quan được diện mạo chung của cả đoànquân. Cái bi & cái hùng là hai vật liệu cốt yếu của pho tượng đài, chúng hòa quyện, xâmnhập vào nhau, nương náu, nâng đỡ nhau, tạo ra vẻ đẹp bi lụy – cái thần thái chung của cảbức tượng đài [4, tr.43].Xen lẫn những nhận xét về bài viết, nhà tìm hiểu cũng đề ra những đánh giá rất sâusắc về văn nghệ trên nhiều phương diện từ cách sử dụng từ đến giai điệu của bài thơ: “Hơn đâuhết, trong đoạn thơ này, chất thơ và chất nhạc hòa quyện với nhau đến mức khó mà tách biệt”[4, tr.42]. Viết về bài thơ “Tây Tiến”, Hà Minh Đức cũng có những nghĩ suy rất thân thiện vớiTrần Đăng Xuyên:Tây Tiến là một sáng tác thơ có giá trị về quan niệm & văn nghệ.. Bài thơ được viết ravới những màu sắc thẩm mỹ đa dạng. Có nét đẹp hùng tráng của núi rừng hiểm trở, & vẻđẹp đơn sơ nên thơ của cuộc đời nơi bản làng quê hương, có xúc cảm mạnh khỏe hịa hợp vớichất trữ tình nhẹ nhõm mềm mại trong thơ. Đặc biệt Tây Tiến là bài thơ giàu giai điệu, nhạcđiệu của cuộc đời & giai điệu của tâm hồn [4, tr.35].Nhìn chung, các nhà tìm hiểu đã đi sâu nghiên cứu bài thơ “Tây Tiến” cùng lúc đánh giácao giá trị & những đóng góp của bài thơ, xem đây là một hiện tượng mới lạ, là một trongnhững đỉnh cao của thơ ca chống Pháp nói riêng & thơ ca hiện đại nói chung. Đây cũng lànhững cứ liệu trọng yếu giúp chúng tơi có cái nhìn sâu sắc hơn về xúc cảm trong thơ QuangDũng cũng như hình mẫu & văn nghệ trổ tài trong thơ ông.133.3. Nhận định chungNhà thơ xứ Đoài – Áng mây trắng trên đỉnh núi Ba Vì đã cất cánh xa. Nhưng, trên khung trời vănhọc thời hiện đại vẫn lãng đãng một “Áng mây mang hình thi sĩ”. Áng mây ấy in dấu một thời khókhăn, khổ sở mà hào hùng của dân tộc. Áng mây ấy không quên đưa theo vào cõi vĩnh hằngmột hồn thơ, một nghiệp thơ lắm vinh quang nhưng cũng nhiều hệ lũy. Từ hơn nữa thế kỉ nay,cùng tồn tại với những vần thơ Quang Dũng, đã hiện ra nhiều bài tìm hiểu, phê bình tìmhiểu thơ ơng trên nhiều phương diện. Nhìn chung, các cơng trình tìm hiểu đã đi vào phântích, lý giải & nhận xét thơ Quang Dũng trên hai phương diện bài viết & văn nghệ, từ đógiới thiệu cùng người xem một hồn thơ tài hoa, mới lạ, cùng lúc cam đoan những đóng gópcủa Quang Dũng trong công cuộc thơ ca hiện đại.Qua tìm tòi, chúng tơi nhận ra các cơng trình tìm hiểu dù với nhiều hướng tiếp cậnkhác nhau nhưng đều có chung một số đánh giá, nhận xét tương đối hợp nhất về thơ QuangDũng như sau:- Quang Dũng là một hồn thơ bình dân, hồn nhiên, chân tình với một tấm chân tình yêu mến,say mê cuộc đời.- Thơ Quang Dũng là sự quy tụ của hai dòng thi cảm: quốc gia, quê hương & khát vọnglên đường với một chất thơ giàu âm nhạc & hội họa.- Thơ Quang Dũng là sự phối hợp của một ngòi bút tài hoa & một tâm hồn hữu tình. Vớinhững bài thơ nhuần nhuyễn giữa cảnh & tình, bút pháp súc tích cơ đọng, có nhiều sức gợicảm, Quang Dũng là một diện mạo khá tiêu biểu của thơ ca trong ba mươi năm kháng chiến.”Ông là một nhà thơ được mến mộ với vẻ đẹp và tính cách sáng tạo độc đáo của một cây bútchân tài. Một hồn thơ “thoảng mừi hương quê mùa” dân dã mà tinh tế, mà hồn hậu với mộtchiều sâu nhân bản” [48, tr.622].Những nội dung trên đây của các nhà tìm hiểu, phê bình đã nhìn nhận thơ Quang Dũngtừ nhiều góc độ khác nhau. Không những thế, chưa có một chuyên luận nào thăm dò một cách toàndiện về đặc điểm thơ Quang Dũng. Chính vì vậy, tìm hiểu một cách hệ thống thơ ca Quang Dũngtrong dòng chảy của thơ ca Viet Nam hiện đại vẫn đang là chủ đề mới mẻ, cuốn hút so với nhiềunhà nghiên cửu, phê bình văn học cũng như những người quan tâm, yêu thích thơ ông.144. Cách thức nghiên cứuỞ luận văn này, chúng tôi sử dụng & kết họp các bí quyết tìm hiểu sau đây:4.1. Cách thức nghiên cứu & tổng hợpĐể thực hiện chủ đề tìm hiểu này, chúng tôi sử dụng các thao tác nghiên cứu các hình ảnhnổi bật, cấu tạo ngơn ngữ, các tín hiệu thẩm mỹ để làm rõ bài viết thơng báo của thơ QuangDũng. Từ đó, chúng tôi rút ra những đặc điểm thơ Quang Dũng.4.2. Cách thức tổng hợp phân loạiĐể thực hiện chủ đề này, chúng tôi cốt yếu đi vào thăm dò các bài thơ được Quang Dũngsáng tác trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc. Từ đó, chúng tơi tổng hợp tần số xuấthiện của những hình ảnh thơ tiêu biểu, nổi trội, các hiện tượng ngôn từ cần tìm hiểu. Trêncơ sở đó phân ra những ngưồn xúc cảm chính trong thơ Quang Dũng.4.3. Cách thức diễn tả, so sánh đối chiếuTrên nền tảng tổng hợp phân loại, chúng tôi đi sâu diễn tả các nguồn thi cảm, những hìnhtượng thơ nổi trội trong toàn cầu thơ Quang Dũng. Cùng lúc, chúng tôi đối chiếu văn nghệ thểhiện trong thơ Quang Dũng với một số nhà thơ cùng thời với ông.4.4. Cách thức hệ thốngMọi yếu tố đều tồn tại trong một hệ thống, bất kể hệ thống nào cũng bao hàm trong nónhững yếu tố rõ ràng và cụ thể. Việc tìm hiểu đặc điểm thơ Quang Dũng cũng như vậy, chúng tơi đặt thơ caQuang Dũng trong dịng chảy của thơ ca hiện đại để nhận xét nét tách biệt, mới lạ & nhữngđóng góp của ơng trong công cuộc thơ ca hiện đại dân tộc. Để làm được điều này chúng tơi đivào thăm dò, nghiên cứu những yếu tố về bài viết & công thức trổ tài của toàn thể thơ caQuang Dũng theo những hệ thống.5. Một số đóng góp của luận vănQuang Dũng là cây viết có một địa điểm trọng yếu trong nền thơ ca VỊệt Nam hiện đại. Sovới một số nhà thơ cùng thời, số lượng tác phẩm thơ của Quang Dũng không lớn nhưng chấtlượng & sự tác động của nó thì lại khơng hề nhỏ. Đã có một số cơng trình viết về sự nghiệpthơ ca Quang Dũng nhưng còn ở góc độ riêng rẽ, tản mạn chưa có một chuyên luận nào nghiên15cứu tồn bộ thơ ơng một cách hệ thống. Trên nền tảng phụ trách & phát huy những thành tựunghiên cứu của những người đi trước, cùng với việc đặt sự nghiệp thơ ca Quang Dũng trongmối quan hệ với thơ ca hiện đại, luận văn của chúng tôi nhằm xác nhận một cách hệ thống đặcđiểm thơ Quang Dũng. Chọn chủ đề này, chúng tơi có nguyện vọng được đóng góp:Nêu lên những đặc điểm của thơ ca Quang Dũng.Làm rõ những giá trị thơ Quang Dũng trên hai phương diện bài viết & văn nghệ.- Góp một phần nhỏ vào việc giảng dạy thơ Quang Dũng trong gia đình trường tốt hơn.6. Cấu trúc của luận vănNgoài phần dẫn nhập & tổng kết, luận văn gồm ba chương:Chương 1: Cuộc sống, công cuộc sáng tác & nguồn thi cảm trong thơ Quang Dũng.Chương 2: Hình mẫu thơ trong thơ Quang Dũng.Chương 3: Ngôn từ thơ & thể thơ trong thơ Quang Dũng.16CHƯƠNG 1: CUỘC ĐỜI, QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC VÀ NGUỒN THICẢM TRONG THƠ QUANG DŨNG1.1. Cuộc sống & công cuộc sáng tác1.1.1. Cuộc đờiCách đây đúng tám mươi lăm năm, vào cái năm Tân Dậu (1921), cậu bé Bùi Đình Dậu(Diệm) cất tiếng khóc ra đời tại làng Phượng Trì, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây. Xuấtthân trong một gia đình khá giả vừa sản xuất nơng nghiệp vừa bn bán nhỏ do đó QuangDũng có những năm tháng tuổi thơ khá giàu có, được học tập cảnh giác. Bố đẻ của ơng là cụBùi Đình Kh, một người có chữ nghĩa đã từng làm quan trong tổng Phùng nhưng tính tình rấtkhảng khái, rộng lượng & hào hoa, phóng khống. Mặc dầu có chút chức sắc nhưng ơng rất ghétnghề nha lại. Mẹ của Quang Dũng – bà Trần Thị Hợi là người vừa đảm đương việc đồng áng lạivừa giỏi bn bán. Bà giàu lịng phúc hậu, thường trợ giúp cưu đưa những người nghèo nàn,cơ nhỡ. Hai tính cách của hai cụ thân sinh đã thấm vào dịng máu Quang Dũng. Ơng thừahưởng tính cách hào hoa phóng khống của bố & tấm lịng phúc hậu, nặng nghĩa tình của mẹ.Làng Phượng Trì, trong làng, ngồi phố, nửa tỉnh, nửa quê. Người dân bước này làm ruộngcũng giỏi bán sỉ cũng sành. Nhưng dù giỏi giang, chuyên cần đến đâu thì cuộc đời vẫn nghèokhó bởi đất đai cằn cỗi, bởi đất chật người đông. Thế nhưng cái nghèo, cái khó khơng thể làmcho vùng đất này xơ xác, tiêu điều, càng chẳng thể khiến cho nhân loại nơi đây cằn cỗi. Ngượclại, người dân xứ Đoài với tâm hồn phóng khống, lạc quan, họ ln tìm ra vẻ đẹp nên thơcủa {q} hương mình, họ khơng chỉ sống với ngơ khoai dâu mía mà trong đời sống có cả “Vầngtrăng ru tiếng sáo”, có “Mây trắng xưa nay về tụ họp”, & nơi đây “Phảng phất khí PhongChâu”.Người Đại Phùng nổi tiếng với tài nói khốc để gây cười. Có vẻ giữa cuộc đời nghèo khóđó họ tìm đến tiếng cười rộn ràng để quên đi những vất vả, nhọc nhằn & cả những túng bấn.Tuy nghèo nàn nhưng nhân loại xứ Đồi rất hào hoa, thích thú du hí. Mùa xuân mảnh đất nàydiễn ra nhiều lễ hội như: lễ hội chùa Thầy, lễ hội chùa Tây Phương & biết bao trò chơi dângian khác như hội vật, đánh đu & hội cờ người… Thời trước, bố Quang Dũng đã từng nuôi cả17đội quân cờ trong gia đình. Theo Trần Lê Văn, người đã sưu tập & tuyển chọn “Tuyển tập QuangDũng” thì: “Lúc Quang Dũng còn bé, phố huyện Đan Phượng đã có bãi chiếu xi nê câm, đángnhớ nhất là phim của vua hề Sáclô, lại cả một rạp tuồng do hai ông cả Ý và hai Niệm mở ra đểmua vui cho bà con trong vùng” [71, tr.13].Toàn bộ những yếu tố đó đã thấm sâu vào tâm hồn Quang Dũng. Có thể nói, cảnh vật xứĐồi, khơng khí xứ Đồi & cái chất Sơn Tây đã ngấm vào dịng máu nhà thơ. Những yếu tố đókhơng những tác động lớn đến tính cách, tâm hồn nhà thơ mà nó đã biến thành nguồn cảmhứng thi ca vô tận cho Quang Dũng. Đặc biệt hơn là những yếu tố đó đã tạo nên nên đặcđiểm thơ Quang Dũng. Bởi thế, người xem thật có lý khi gọi ơng là nhà thơ xứ Đoài hay “Ángmây trắng xứ Đoài”.Quang Dũng ra đời & lớn lên trong thời đại bão táp cách mạng. Thuở nhỏ ơng học ởtrường làng sau đó theo học người cậu ruột làm giáo học tại ngã ba Thá rồi học sư phạm ở HàNội. Sớm xa mẹ cha, xa mái nhà & xứ Đoài yêu dấu để sống cuộc sống tự lập, thỏa chí gianghồ. Chính vì vậy sau thời điểm tốt nghiệp trường sư phạm, Quang Dũng không theo ngành dạy học mà điđánh bọn, kéo nhị cho một gánh hát, nay đây mai đó, bơn ba khắp các phố phường Hà Nội.Chào đời giữa thời loạn lạc, là một giới trẻ giàu lòng yêu quê hương quốc gia, có chí khí,Quang Dũng khát khao hiến dâng tuổi trẻ cho cách mạng. Ở cái tuổi mười chín đơi mươi, cáituổi mà “tim đang dào dạt máu” & “hồn quay trong gió bão”, Quang Dũng đã tìm & giao duvới những giới trẻ có trí não yêu nước. Họ bên cạnh nhau đọc những tờ báo tiến bộ, nhữngcuốn sách hay, mong mỏi tìm cho mình một “mặt trời chân lí”.Lịng khát khao những chân mây xa lạ, bản tính phiêu lãng, giang hồ đã thúc dục QuangDũng rời Hà Nội du lãm lên Yên Bái. Nơi đây mối tình đầu đẹp đẽ giữa anh với cô gái vườnổi nẩy nở. Nhưng mối tình tha thiết đó cũng khơng giữ chân được cái máu di dời của ông. Đểrồi sau hơn hai chục năm tái ngộ người yêu năm xưa nhà thơ bùi ngùi, thương cảm:Bỏ em anh điĐường hai mươi nămDài bao chia tay(Không đề)18Ở thời đại mà những người giới trẻ yêu nước như Quang Dũng đang “Bâng khuâng đikiếm lẽ yêu đời” thì khơng phải ai cũng đơn giản gặp được cách mạng. Quang Dũng cũng như vậy,lòng khát khao làm cách mạng kết phù hợp với dòng máu giang hồ đã mang bước chân ông sang tậnTrung Quốc, rồi gặp Quốc dân đảng, tưởng đâu là tổ chức cách mạng, sống với họ một thờigian rồi lại ữở về nước. Hào khí của niên đại bão táp cách mạng đã gây chấn động mạnh mẽtrong tâm hồn Quang Dũng nói riêng & thế hệ giới trẻ lúc bấy giờ nói chung. Cùng với toàndân, nhất là cùng với những người trong lứa tuổi thanh xuân như mình, Quang Dũng đã dấnthân vào cuộc. Ơng hịa mình vào dịng thác cách mạng với toàn bộ men say của người dân mấtnước đang khát khao độc lập, tự do, & cả tấm chân tình say đắm nét đẹp của người nghệ sĩ sống cólý tưởng. Chính hào khí sục sơi của niên đại đã hình thành một tư thế đẹp đẽ, hùng tráng & lãngmạn trong thơ Quang Dũng.Cách mạng tháng Tám thành công đã mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc ta, kỷ nguyênđộc lập tự do, nhân dân ta được kiểm soát quốc gia, kiểm soát cuộc sống. Những anh chàng có họcnhư Quang Dũng sẽ thoả sức đem tài năng, trí tuệ của mình để xây dựng quốc gia. Nào ngờ,thực dân Pháp trở lại xâm lược. Hưởng ứng lời mời gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ ChủTịch, đầu năm 1947, Quang Dũng xếp bút nghiên, từ giã vợ con tham gia đoàn binh Tây Tiếnvới một trí não phơi phới “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”. Ra đi trong tư thế hừng hựccủa một dân tộc người hùng chưa lúc nào chịu khuất phục:Thôi nhé miền xuôi!Thôi tạm biệtThôi chào Hà Nội lửa ngang trờiTa điNgõ Gạch – tườmg đang đục(Những làng đi ngang qua)Thế là người con trai xứ Đồi trở thành “Áng mây mang hình chiến sĩ” phiêu bồng giữatrận mạc. Mấy năm trời đồng hành với núi rừng Tây Bắc nguy nga, hiểm trở, Quang Dũng cũng nhưnhững người lính trẻ Tây Tiến đã chịu biết bao thiếu thốn, khổ sở, hy sinh. Nhưng nào có hề19gì, họ chiêm ngưỡng cuộc sống hồn nhiên, giản dị, họ xem tử vong nhẹ tựa hồng mao. Bởi, họ ýthức một cách sâu sắc về vận mệnh dân tộc, vì họ cũng từng từng trải qua qng đời nơ lệ.Ở giữa nơi sự sống & tử vong kề cận, khổ sở, thiếu thốn & bệnh tật bao vây, nhữngchàng trai Tây Tiến vẫn cứ hữu tình, hào hoa. Sau những trận đánh kịch tính là những đêmliên hoan nghệ thuật ấm áp tình quân dân, nghĩa đồng đội:Doanh trại bừng lên hội đuốc hoaKìa em xiêm áo tự bao giờKhèn lên man điệu nàng e ấpNhạc về Viên Chăn xây hồn thơ(Tây Tiến)Lính Tây Tiến phần đơng là giới trẻ Hà Thành với đủ các thành phần: trí thức có, laođộng chân tay cũng có. Họ sống với nhau rất vui vẻ & nghĩa tình bởi họ là những người đồngchí. Họ cùng chung một lý tưởng là độc lập dân tộc. Giữa chiến trận khổ sở của cuộckháng chiến chống Pháp, người đại đội trưởng Quang Dũng với cây kiếm Nhật bên hơng lntốt lên cái vẻ đẹp tài tử, hào hoa của người Hà Thành. Nghỉ lại ở một bản làng dọc đườnghành quân hay những phút thảnh thơi sau mỗi trận đánh, Quang Dũng lại thể hiện mua vui cho mọingười. Ông ngâm thơ, thổi sáo, đánh bọn & vẽ tranh… Hơn khi nào hết sự tài hoa kết họp vớichất kẻ Phùng được thế hiện một cách sâu sắc ở nhân loại Quang Dũng như ở cái thời khắcnày. “Những ai quen Quang Dũng đều biết anh là một người vui tính, giỏi hài hước, một thứhài hước thông minh và đôn hậu. Anh đến đâu là vui đấy, chun trị rơm rả, tiếng cười trongtrẻo ấm áp nổi lên, người lớn trẻ con đều khối” [71, tr.36].Sau hai năm đồng hành với đồn binh Tây Tiến, biết bao kỷ niệm vui buồn đọng lại trong kýức người đại đội trưởng Quang Dũng. Cuối năm 1948, ông chuyển sang nhà cung cấp khác, về làmtrưởng tiểu ban tuyên huấn của trung đoàn 52, rồi làm trưởng đoàn nghệ thuật liên khu III. Rờixa đon vị cũ chưa bao lâu, về dự hội nghị toàn quân tại làng Phù Lưu Chanh, kỉ niệm một thờithiếu thốn, khổ sở mà hào hùng áp về, ông viết bài thơ “Tây Tiến”.Quang Dũng là người có năng khiếu hội họa, đi đến đâu, trong ba lô của ông, bên cạnhcây bút sắt để ghi chép, làm thơ, viết truyện là cây viết lông để vẽ tranh. Cái tài vẽ tranh này đã20giúp cho Quang Dũng rất là nhiều khi làm thơ. Chính vì như thế đến với thơ ơng, người xem có cảmnhận như mình đang ngắm một bức họa màu nước với những cụ thể rõ ràng và cụ thể, với sự hài hòacủa màu sắc, nghe được tiếng động & ngửi thấy hương vị. Đây là bức họa được ông ghi lại trênnhững hành trình cơng tác:Long lanh bóng núi in sơng biếcBuồn nhớ thương ai lòng hiu hiu?Quạnh quẽ sắn nương rờn nắng ấmNgõ trúc người ơi! Tịch mịch chiều(Thu)Là một nhân loại phóng khống, đơn hậu, chân tình, ngay thẳng, khơng ham danh lợi,Quang Dũng sống tuềnh tồng, khơng hề bon chen. Điều này đã in đậm trong thơ ông. QuangDũng chỉ làm thơ theo xúc cảm, chỉ viết những điều mình thích, tâm đắc.Quang Dũng lớn lên khi xu thế văn học hữu tình đang diễn ra một cách mạnh khỏe. Làmột giới trẻ có học, ơng sớm tiếp thụ những tinh hoa của xu thế văn học mới này. Lạiđược kế thừa dòng máu hữu tình của nhân loại Sơn Tây, của những lớp bọn anh như Tản Đà,Quang Dũng rất mê nhân vật Dũng của Nhất Linh. Ông yêu thơ Nguyễn Nhược Pháp, NguyễnBính, Đồn Văn Cừ… Dịng máu giang hồ nay được nuôi dưỡng bởi văn chương hữu tình đãtạo nên cái dung mạo cá nhân, cái phong thái văn chương của Quang Dũng. Cũng chính cáichất hữu tình tiểu tư sản của nhân loại Quang Dũng đã in đậm vào thơ ông mà một thời ôngđã phải chịu lao đao, lận đận. Bước vào cuộc kháng chiến cái gì cũng nên mạch lạc, dễ dàng,người ta tránh kể tới tình u, nỗi buồn, tử vong & những lạc thú cá nhân. Song, vì cái bảntính chân thực, ngay thẳng cuộc đời diễn ra như vậy nào thì nói vậy, viết vậy. Chính vì vậy, nhữngcâu thơ như: “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” (Tây Tiến), hay: “Khi anh đã về xa/ Chị dọnhàng đi ngủ/ Chép miệng trong hơi chăn/ Chị buồn chi khơng rõ” (Lính râu ria), một thời bịphê phán mạnh khỏe.Tháng 8 năm 1951, người đại đội trưởng Tây Tiến năm xưa xuất ngũ. Tuy rời qn độinhưng “Áng mây trắng xứ Đồi” ln có mặt cùng những đồn dân cơng thồ gạo ra chiến21trường, đưa đạn lên tiền tuyến. Ông vẫn cùng với các nhà cung cấp bộ đội hành quân, tranh đấu.Dấu chân ông in đậm trên nhiều mảnh đất mà đoạn đường Mười Hai đi ngang qua.Sau hịa bình (1954), ơng chuyển về hội nhà văn, làm công tác chỉnh sửa nghệ thuật ở cácbáo & ở nhà xuất bản. Những năm tháng sống giữa Hà Nội, ông luôn khao khát những chântrời xa lạ, mong muốn tắm mình trong khơng gian mênh mông của rừng, của biển, không đồng ý cuộcsống eo hẹp nơi phố hẹp.Năm 1978, Quang Dũng nghỉ hưu & ông mất ngày 13 tháng 10 năm 1988 sau mấy nămtrời bị tai biến.Hiện tại nhà thơ xứ Đồi khơng cịn nữa, áng mây trắng từ đỉnh núi Ba Vì kia đã vĩnhviễn cất cánh về chốn bồng lai. Không biết ở nơi hư vơ kia, áng mây trắng xứ Đồi có bập bồng,phiêu dạt khắp rộng dài quốc gia? Chỉ biết một điều, trên khung trời văn học Viet Nam hiện đạivẫn sáng mãi một vầng trăng thi ca của người thi sĩ xứ Đồi.1.1.2. Ǫ trình sáng tácQuang Dũng là một nghệ sĩ đa tài, ông sáng tác nhiều chuyên mục: thơ, văn, nhạc, tranh. Ởlĩnh vực nào, ông cũng để lại dấu ấn cá nhân rất sắc nét. về âm nhạc, nhắc đến Quang Dũng làngười yêu nhạc nhớ tới “Ba Vì mờ cao”, Một bài hát đã lắng sâu trong tâm hồn của lớp thanhniên từng giã nhà đi kháng Pháp. Ở ngành nghề hội hoạ, Quang Dũng là Author của nhiều bứctranh, cốt yếu là tranh lụa vẽ cảnh quan. Về văn chương, ông là Author của nhiều bài thơ nổitiếng như: Tây Tiến, Mắt người Sơn Tây, Những làng đi ngang qua, Đường trăng… & nhiều tậptruyện kí. Viết hơi nhiều nhưng ơng chẳng lúc nào có ý thức vun vén, hình thành cho mình mộtsự nghiệp. Ông chẳng chuyên tâm tới việc xuất bản, in ấn & giữ lại. Chính vì như thế, các sáng tác củaông cứ vương vãi, bị thất lạc. Các sáng tác còn sót lại của Quang Dũng cốt yếu được giữ lại quabạn bè, qua kí ức của người xem. Gần nửa thế kỉ lao động văn nghệ, Quang Dũng vẫn chỉ làchủ nhân của một gia tài không mấy to lớn đối với những nhà văn cùng trang lứa, cùng thời vớiơng. Này là ba tập thơ & năm tập truyện kí. về thơ có ”’Bài thơ Sơng Hồng” (1956), “Rừng biểnquê hương” (in chung với Trần Lê Văn – 1957), “Mây đầu ơ” (1986). Cịn văn xi có “Mùahoa gạo” (1950), “Đường lên Châu Thuận” (1964), “Rừng về xuôi” (1968), “Nhà đồi” (1970),”Một chặng đường Cao Bắc” (1983).22Quang Dũng đến với thơ từ rất sớm. Trước cách mạng tháng Tám, ông hiện ra trên thiđàn lúc mười sáu tuổi với bài thơ “Chiêu quân” (1937). Cảm hứng của bài thơ bắt nguồn từ mộtsự kiện lịch sử của Trung Hoa: Nàng Chiêu Quân bị cống Hồ. Với thể thơ thất ngôn cổ điển,nhịp điệu trầm lắng, giọng thơ nghẹn ngào, bài thơ thể hiện niềm cảm thông, lịng xót xa đốivới nàng Chiêu Qn. Ngay từ bài thơ đầu tay người đọc đã thấy xuất hiện ở Quang Dũng mộthồn thơ đằm thắm mà tinh tế, hồn hậu mà tài hoa mang một chiều sâu nhân bản. Sau đó ít lâu,năm 1940, Quang Dũng cho ra mắt bài thơ “Cố quận”. Bằng âm hưởng cổ điển, bài thơ thểhiện một tâm hồn gắn bó tha thiết với nơi chơn nhau cắt rốn, nặng lịng với q hương xứ sở.Nhìn chung trước cách mạng tháng Tám, Quang Dũng sáng tác chưa nhiều và người đọc cũngít biết đến tên tuổi ông.Sau cách mạng tháng Tám, Quang Dũng gia nhập làng thơ cách mạng với bài thơ “TâyTiến” (1948). Bài thơ được ông viết sau một thời gian xa rời đoàn binh Tây Tiến. Ngay từ khimới chào đời, bài thơ đã làm say mê bạn đọc trong & ngoài quân đội. Bài thơ là đỉnh cao của thơca chống Pháp. Bài thơ được nhà xuất bản vệ quốc quân Liên khu III in lần trước hết vào năm1949 với nhan đề “Nhớ Tây Tiến”. Đến năm 1957, khi mang vào tập ”Rừng biển quê hương”,Quang Dũng đã bỏ đi chữ nhớ. Bài thơ mang tên “Tây Tiến” từ đó. “Tây Tiến” là bài thơ tiêubiểu nhất của đời thơ Quang Dũng.Sau “Tây Tiến”, Quang Dũng tiếp tục viết nhiều thơ về người lính như: Những làng điqua, Quán nước, Nhớ, Lính râu ria, Đường trăng, Đường 12… Nhìn chung, các bài thơ viết vềngười lính của Quang Dũng có sự giao lưu, hịa nhập giữa yếu tố hiện thực khắc nghiệt với tâmhồn lãng mạn, giữa vẻ đẹp chân chất dân dã với tài hoa tinh tế. Những bài thơ này đã góp vàonền thơ ca kháng chiến một diện mạo, một phong cách độc đáo. Quang Dũng là người lính cầmbút, ơng hiểu biết sâu sắc về cuộc sống và tâm hồn người lính. Vì vậy, những bài thơ viết vềngười lính của ơng rất chân thật được người đọc yêu mến.Bên cạnh mảng thơ viết về người lính, Quang Dũng có một số bài thơ viết về q hươngxứ Đồi, về những vùng đất mà ơng từng gắn bó, về những con người mà ơng từng gặp gỡ.Tiêu biểu cho mảng thơ này là các bài như: Mắt người Sơn Tây, Thu, Những cô hàng xén, Baìón Bác, Mái nhà đêm Bạch Hạc, Nhớ một bóng núi… “Quang Dũng dành những dòng cảmđộng nhất viết về quê hương, đất nước đặc biệt là xứ Đoài mà ông luôn khắc khoải thương23nhớ” [48, tr.622]. Với những bài thơ đằm thắm, hồn hậu này, Quang Dũng đã góp vào thơ ViệtNam “những bức họa quê” chân tài.Thơ tình cũng là mảng khá thành công trong sự nghiệp thơ ca Quang Dũng. Tuy viết vềđề tài này khơng nhiều (2 bài có tên “Khơng đề” và 1 bài có tên “Vườn ổi”) song những bài thơnày đã để lại trong tâm hồn người đọc ấn tượng khó phai. Tình thực, cảm xúc thực và nhữngrung động tinh tế tạo nên sắc thái riêng của thơ tình Quang Dũng.Sau 1975, Quang Dũng cũng tiếp tục đi nhiều, viết nhiều nhưng các sáng tác của ông chủyếu là thể loại bút kí. Ở lĩnh vực thơ, tiêu biểu là bài “Nhớ một bóng núi” vẫn một tấm lòng hồnhậu, tha thiết với quê hương xứ Đoài yêu dấu.Năm 1986, nhà xuất bản “Tác phẩm mới” cho ra mắt tập thơ “Mây đầu ô” do Trần Lê Vănsưu tầm và tuyển chọn. Tập thơ được tuyển lại từ 46 bài thơ của đời thơ Quang Dũng. Với 22bài thơ, “Mây đầu ô” đã đem đến cho người đọc phần tốt đẹp nhất của tâm hồn và cá tính sángtạo của Quang Dũng. Trong số 22 bài thơ đó có 8 bài viết trong kháng chiến chống Pháp và 14bài viết sau 1954. So với các nhà thơ cùng thời số lượng thơ ca của Quang Dũng thật khiêm tốnsong nhắc đến những nhà thơ tiêu biểu trong hai cuộc kháng chiến người đọc không thể khôngnhắc đến ông.1.2. Nguồn thi cảm trong thơ Quang Dũng1.2.1. Nguồn thơ viết về quê hương đất nướcQuê hương, đất nước là một trong những nguồn cảm hứng chủ đạo của thơ ca. Điều này,nó như một lẽ hiển nhiên. Bởi ai sinh ra mà chẳng có một miền quê, ai lớn lên mà chẳng gắn bóvới một dịng sơng, ngọn núi, lũy tre, rặng dừa… Quê hương là dòng sữa ngọt ngào nuôi dưỡngtâm hồn con người, nhất là đối với người nghệ sĩ. Trong tâm linh của người phương Đơng nóichung và người Việt Nam nói riêng, q hương là nơi chôn nhau cắt rốn, là máu thịt của mỗingười. Con người có thể đi nhiều nơi, sống nhiều chỗ, gắn bó với nhiều vùng đất khác nhaunhưng trong đáy sâu tâm hồn vẫn luôn chất chứa một nỗi nhớ, niềm thương tha thiết đối vớiquê hương mình. Chẳng thế mà những câu ca dao quen thuộc nhất, đọng lại trong kí ức của conngười biết bao đời nay là những dòng viết về quê hương, xứ sở thân yêu:Anh đi anh nhớ quê nhà24Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tươngNhớ ai dãi nắng dầm sươngNhớ ai tát nước bên đường hôm naoTừ xưa đến nay, làng quê Việt Nam đi vào thơ như một nét đẹp văn hóa. Chúng ta có cảmột kho tàng ca dao – dân ca rất phong phú về q hương đất nước. Và, chúng ta cịn có mộtnền văn học viết với những cây bút đặc sắc khi viết về đề tài này. Từ Nguyễn Trãi (1380 1442), Thái Thuận (1441 – ?), Lê Thánh Tông (1460 – 1497), Nguyễn Khuyến (1835 -1909)đến những nhà thơ của phong trào thơ mới như Nguyễn Bính, Đồn Văn Cừ, Anh Thơ, NguyễnNhược Pháp rồi cả một thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến như HồngCầm, Nguyễn Đình Thi, Quang Dũng, Giang Nam, Lê Anh Xuân…Hòa vào dòng chảy của thơ ca trong hai cuộc kháng chiến, Quang Dũng – nhà thơ xứ Đoàiđược nhiều thế hệ độc giả yêu mến với tư cách là thi sĩ có nhiều sáng tác thành cơng về qhương, đất nước: “Thơ Quang Dũng làm đa dạng thêm bộ sưu tập những vẻ đẹp của làngquê mà Nguyễn Nhược Pháp, Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đồn Văn Cừ… từng đóng góp” [74,tr.436]. Phần lớn thơ Quang Dũng đều chứa đựng hình bóng q hương, đất nước lúc là nhữngđịa danh cụ thể, lúc là những kí ức sâu lắng. Cũng như nhiều nhà thơ khác, quê hương là mộtthứ ánh sáng diệu kì, là nguồn năng lượng vơ tận đã chắp cánh cho những vần thơ Quang Dũnglan toa, lung linh. Đánh giá về nguồn thi cảm này trong tập “Mây đầu ô”, nhà nghiên cứuNguyễn Xuân Nam viết: “Điều trước hết mà ta quý “Mây đầu ô” là ở mảng vật liệu quê hươngmà nhà thơ đã tắm mình trong thơ” [4, tr.8].Có thể nói lịng u nước trong thơ Quang Dũng được khơi nguồn từ tiếng gọi quê hương.Song chắt lọc được cái hồn quê, tạo được một khơng khí q hương từ những cảnh vật bình dịđể nó trở thành thơ và đi vào lịng người thì quả là điều không dễ. Bởi thế giới nghệ thuật thơ làthế giới tâm linh của tác giả, “Là văn nghệ bên trong của tâm hồn”. Thơ là một thể loại vănhọc đặc thù. Tư duy hình tượng trong thơ cũng có những nét đặc thù riêng. Nhà thơ tư duybằng tâm hồn tràn đầy tình cảm, cảm xúc: “Thiện cảm trong thơ là nhân tố trực tiếp xây dựnghình tượng thơ”[21, tr.171]. Chính tấm lịng u mến tha thiết quê hương do đó hình ảnhđồng Bương Cấn, núi Sài Sơn, đỉnh Ba Vì, dịng sơng Đáy, vầng trăng, tiếng sáo… cứ trở đi trởlại trong thơ Quang Dũng. Một trong những nguồn thi cảm chính làm ra giá trị thơ Quang25

Xem Thêm  MOSFET Safe Operating Area and Hot Swap Circuits - safe area

Viết một bình luận