Bạn đang xem: gatt là gì

 

 

Chính phủ Khối
thịnh vượng chung Úc, Vương quốc Bỉ, Hợp chủng Quốc Brasil, Miến điện, Canada,
Ceylon, Cộng hoà Chi lê, Cộng hoà Trung Hoa, Cộng hoà Cu ba, Cộng hoà Tiệp khắc,
Cộng hoà Pháp, ấn độ, Li băng, Đại công quốc Lục Xâm bảo, Vương quốc Hà lan,
Tân Tây Lan, Vương quốc Na uy, Pa-kix-tan, Nam-Rhodessia, Syri, Liên minh Nam
phi, Liên minh Vương quốc Anh và Bắc Ai-len, và Hợp chủng quốc Hoa kỳ:

 

           
Thừa nhận rằng mối quan hệ của họ với nỗ lực trên trường kinh tế thương mại cần
được tiến hành nhằm nâng cao mức sống, đảm bảo đầy đủ việc làm và thu nhập thực
tế  và  thu nhập thực cao và tăng trưởng vững chắc, sử dụng đầy đủ và
tốt hơn nguồn lực của toàn cầu và mở mang sản xuất và trao đổi hàng hoá,

 

           
Muốn đóng góp vào các mục tiêu nêu trên thông qua các thoả thuận tương hỗ
và cùng có lợi theo hướng tới giảm mạnh thuế quan và các trở ngại  thương
mại khác và hướng tới triệt tiêu sự phân biệt đối xử trong thương mại quốc tế,

 

Thông qua các Đại
diện của mình đã thoả thuận như sau:

 

Phần
Ι

 

Điều
Ι

 

 

1.        
Với mọi khoản thuế quan và khoản thu thuộc bất kể loại nào nhằm vào hay có liên
hệ tới nhập khẩu và xuất khẩu hoặc đánh vào các khoản chuyển tiền để thanh
toán hàng xuất  nhập khẩu, hay phương thức đánh thuế hoặc ứng dụng phụ
thu  nêu trên, hay với mọi luật lệ hay thủ tục trong xuất nhập khẩu và
liên quan tới mọi nội dung đã được nêu tại khoản 2 và khoản 4 của Điều III,* mọi
lợi thế, biệt đãi, đặc quyền hay quyền miễn trừ được bất kỳ bên ký kết nào dành
cho bất kể một sản phẩm có xuất xứ từ hay được giao tới bất kỳ một nước nào
khác sẽ được ứng dụng cho sản phẩm tương tự có xuất xứ từ hay giao tới mọi bên
ký kết khác ngay mau chóng và một cách không điều kiện.

2.        
Các quy định của của Khoản 1 thuộc Điều này không đòi hỏi phải loại bỏ bất kể một
ưu đãi nào liên quan tới thuế nhập khẩu hay các khoản thu không vượt quá mức đã
được quy định tại Khoản 4 của Điều này và nằm trong diện được quy định dưới
đây:

 

(α)          Ưu đãi có
hiệu lực giữa hai hay nhiều lãnh thổ nêu trong danh sách tại phụ lục 𝓐, theo các
điều kiện nêu trong phụ lục đó;

(ɓ)          Ưu đãi có
hiệu lực riêng giữa hai hay nhiều lãnh thổ có mối liên hệ về chủ quyền chung
hay có quan hệ bảo lãnh chủ quyền được nêu tại danh sách Ɓ, ₵, 𝓓, theo điều kiện
đã nêu ra trong các phụ lục đó;

(¢)          Ưu đãi chỉ
có hiệu lực riêng giữa các nước có chung biên giới nêu trong phụ lục E, ₣.

 

3.        
Các điều khoản của khoản Ι sẽ không ứng dụng với các ưu đãi giữa các nước trước
đây là phòng ban của Lãnh thổ Ottoman và được tách từ lãnh thổ Ottoman ra từ ngày
24 tháng 7 năm 1923, miễn là các ưu đãi đó được phép ứng dụng theo khoản 5 của
điều XXV và do vậy sẽ đươc ứng dụng phù phù hợp với khoản 1 của Điều XXIX.

 

4.        
Biên độ ưu đãi* ứng dụng với bất kể sản phẩm nào được khoản 2 của Điều này cho
phép dành ưu đãi nhưng các Biểu cam kết đính kèm theo Hiệp định này lại không
có quy định rõ rõ ràng mức biên độ tối đa, sẽ không vượt quá:

 

(α)     Khoản chênh lệch giữa mức đối xử  tối huệ
quốc và thuế suất ưu đãi nêu trong Biểu, với thuế quan hay khoản thu ứng dụng với
bất kể sản phẩm nào đã được ghi trong Biểu tương ứng; nếu trong Biểu không ghi
rõ thuế suất ưu đãi, việc vận dụng thuế suất ưu đãi theo trí não của điều khoản
này sẽ căn cứ vào mức thuế ưu đãi có hiệu lực vào ngày 10 tháng 4 năm 1947 và nếu
trong Biểu cũng không có mức thuế đối xử tối huệ quốc thì ứng dụng mức chênh lệch
giữa thuế suất ưu đãi và thuế theo đối xử tối huệ quốc đã có vào ngày 10 tháng
4 năm 1947;

 

(ɓ)     Với mọi khoản thuế quan và khoản thu
không ghi rõ ràng trong Biểu tương ứng, mức chênh lệch có được vào ngày 10 tháng
4 năm 1947 sẽ được ứng dụng.

 

Trong trường hợp một bên ký kết
có tên trong phụ lục ₲, ngày 10 tháng 4 năm 1947 tham chiếu đến tại tiểu khoản
(α) và (ɓ) trên nêu trên sẽ được thay thế bằng ngày rõ ràng ghi trong phụ lục
đó.

 

Điều
II

 

1.      (α)
       Mỗi bên ký kết sẽ giành cho thương mại của
các bên ký kết khác sự đối xử không kém phần thuận tiện hơn những đối xử đã nêu
trong phần tương ứng thuộc Biểu nhân nhượng tương ứng là phụ lục của Hiệp định
này.

 

(ɓ)       Các sản phẩm như mô tả tại Phần
Ι của Biểu liên quan tới bất kỳ bên ký kết nào, là sản phẩm xuất xứ từ lãnh thổ
một bên ký kết khác khi nhập khẩu vào lãnh thổ của bên ký kết mà Biểu được ứng dụng
và tuỳ vào các điều khoản và điều kiện hay yêu cầu đã nêu tại Biểu này, sẽ được
miễn mọi khoản thuế quan thông thường vượt quá mức đã nêu trong Biểu đó. Các sản
phẩm đó sẽ được miễn mọi khoản thuế hay khoản thu dưới bất kể dạng nào ứng dụng
vào thời điểm nhập khẩu hay liên quan tới nhập khẩu vượt quá mức đã ứng dụng vào
ngày ký Hiệp định này cũng như vượt quá mức các loại thuế hay các khoản thu luật
định trực tiếp hay áp đặt theo thẩm quyền luật định trên lãnh thổ nhập khẩu vào
ngày đó hay sau đó.

 

(¢)        Các sản phẩm của các
lãnh thổ quan thuế mô tả ở phần II của Biểu liên quan tới bất kể bên ký kết nào
có đủ điều kiện theo Điều Ι để được hưởng đối xử ưu đãi khi nhập khẩu vào lãnh
thổ mà Biểu đó có hiệu lực, nếu thỏa mãn các điều kiện điều khoản hay yêu cầu
nêu trong Biểu đó sẽ được miễn phần thuế quan thông thường vượt trên thuế xuất
đã quy định tại phần II của Biểu. Các sản phẩm đó cũng sẽ được miễn mọi khoản
thuế hay khoản thu thuộc bất kỳ loại nào vượt quá mức thuế hay mức thu quy định
ứng dụng với quan hệ thuộc dạng nhập khẩu vào ngày ký Hiệp định này hay sẽ ứng dụng
theo quy định trực tiếp của pháp luật  hay được pháp luật của lãnh thổ nhập
khẩu có hiệu lực vào ngày đó hay quy định sẽ thu sau ngày nêu trên. Không một nội
dung nào thuộc điều khoản này ngăn cản một bên ký kết duy trì các quy định về
điều kiện được hưởng đãi ngộ thuế quan ưu đãi đã có vào ngày ký kết Hiệp định
này.

 

2.        
Không có nội dung nào thuộc điều khoản này ngăn cản một bên ký kết ứng dụng vào
bất kỳ thời kỳ nào với nhập khẩu bất kể sản phẩm nào:

 

(α)   một khoản thu tương tự với một khoản thuế nội địa
ứng dụng phù phù hợp với các quy định của khoản 2 của Điều III* với sản phẩm nội địa
tương tự hoặc  với một mặt hàng được sử dụng toàn thể hay một phần để chế tạo
ra sản phẩm nhập khẩu.

 

(ɓ)   bất kể một khoản thuế chống bán phá giá hay thuế đối kháng
nào ứng dụng phù phù hợp với các quy định của Điều VI.*

 

(¢)   các khoản lệ phí hay khoản thu khác phù phù hợp với giá thành
của dịch vụ đã phân phối.          

 

3.        
Không một bên ký kết nào sẽ điều chỉnh phương pháp xác nhận trị giá tính thuế
hay chuyển hóa đồng tiền dẫn tới kết quả là làm suy giảm các nhân nhượng đã đoạt
được tại Biểu tương ứng là phụ lục của Hiệp định này.

 

4.        
Nếu một bên ký kết nào định ra hay duy trì hay cho phép, chính thức hay ứng dụng
trong thực tiễn một sự độc quyền trong nhập khẩu bất kể một sản phẩm nào đã ghi
trong Biểu nhân nhượng là phụ lục của Hiệp định này hay đã được các bên tham
gia thương thảo ban đầu trao đổi ở văn bản khác sự độc quyền đó sẽ không được vận
dụng tạo thành sự bảo lãnh có mức trung bình cao hơn mức đã quy định tại Biểu
nhân nhượng đó. Quy định của khoản này không hạn chế một bên ký kết ứng dụng bất
cứ hinh thức trợ giúp nào với các nhà sản xuất trong nước được các quy định của
Hiệp định này cho phép.*

 

5.        
Nếu bất kỳ bên ký kết nào thấy rằng một sản phẩm không thu được ở một bên ký kết
khác sự đãi ngộ mà mình cho rằng đấng lẽ phải được hưởng theo nhân nhượng tại
Biểu tương ứng, bên ký kết đó sẽ nêu vấn đề lên với các bên ký kết khác. Nếu
bên ký kết đang ứng dụng mức đãi ngộ nêu trên thấy rằng yêu cầu của bên ký kết
này là đúng nhưng không thể cho hưởng sự đãi ngộ đó vì không thể làm trái ý chí
của một toà án hay một đơn vị quyền lực thích ứng nào đó vì có phán quyết rằng
hàng hoá đó không được phân loại theo luật thuế của bên ký kết để có thể ứng dụng
sự đãi ngộ nêu trong Hiệp định này, hai bên ký kết cùng với bất kỳ bên ký kết
nào khác có quyền lợi đáng kể sẽ khẩn trương tiến hành thương thảo nhằm điều chỉnh
bù đắp cho quyền lợi đó.

 

6.      (α)       
Các thuế và khoản thu rõ ràng thuộc Biểu của các bên ký kết là Thành viên của Quỹ
Tiền Tệ Quốc tế (IMF) và biên độ ưu đãi trong mức thuế và khoản thu rõ ràng được
các bên ký kết đó ứng dụng được trổ tài bằng đồng tiền tương ứng tính theo trị
giá quy đổi được Quỹ chấp thuận và tạm thời thừa nhận vào thời điểm ký kết Hiệp
định này. Theo đó, nếu trị giá quy đổi bị giảm đến hai chục phần trăm thỏa mãn
các quy định của Điều lệ IMF, các thuế và khoản thu và biên độ ưu đãi rõ ràng đó
có thể được điều chỉnh có tính đến mức giảm nói trên; miễn rằng các bên ký kết
đó (ví dụ Các Bên Ký kết cùng hành động theo quy định của Điều XXV) cùng cho rằng
sự điều chỉnh như vậy sẽ không làm mất đi gía trị của các nhân nhượng đã xác nhận
tại Biểu tương ứng hay xác nhận ở nơi nào khác trong Hiệp định này, đồng thời
cũng ghi nhận đầy đủ đến mọi nhân tố có thể tác động đến nhu cầu và tính khẩn
thiết của sự điều chỉnh đó.

 

 (ɓ)      Các quy định tương tự cũng ứng dụng
với các bên ký kết hiện không phải là thành viên của Quỹ tiền tệ Quốc tế-IMF, kể
từ ngày bên ký kết đó gia nhâp Quỹ và tham gia thoả thuận đặc biệt về ngoại hối
theo Điều XV.

 

7.        
Các Biểu nhân nhượng kèm theo Hiệp định này là một phòng ban không thể tách rời của
Phần Ι Hiệp định này.

 

Phần II

 

Điều III*

 

 

1
         Các bên ký kết thừa nhận rằng
các khoản thuế và khoản thu nội địa, cũng như luật, hay quy tắc hay yêu cầu tác
động tới việc bán hàng, rao bán, vận tải, phân phối hay sử dụng sản phẩm trong
nội địa cùng các quy tắc định lượng trong nước yêu cầu có pha trộn, sơ chế
hay sử dụng sản phẩm với một khối lượng tỷ trọng xác nhận, không được ứng dụng với
các sản phẩm nội địa hoặc nhập khẩu với kết cục là bảo lãnh hàng nội địa.*

 

2.        
Hàng nhập khẩu từ lãnh thổ của bất kể một bên ký kết nào sẽ không phải chịu, dù
trực tiếp hay gián tiếp, các khoản thuế hay các khoản thu nội địa thuộc bất kể
loại nào vượt quá mức chúng được ứng dụng, dù trực tiếp hay gián tiếp, với sản
phẩm nội tương tự. Hơn nữa, không một bên ký kết nào sẽ ứng dụng các loại thuế
hay khoản thu khác trong nội địa trái với các phép tắc đã nêu tại khoản 1.*

 

3.        
Với mọi khoản thuế nội địa hiện đã tồn tại trái với các quy định tại khoản 2,
nhưng có thoả thuận rõ ràng cho phép duy trì căn cứ vào một hiệp định thương mại
có giá trị hiệu lực vào ngày 10 tháng 4 năm 1947, theo đó thuế nhập khẩu đánh
vào sản phẩm chịu thuế nội địa đã được cam kết trần, không tăng trưởng, bên ký kết
đang ứng dụng thuế đó được hoãn thời hạn thực hiện các quy định tại khoản 2 ứng dụng
với các loại thuế nội đó cho tới khi nghĩa vụ thuộc hiệp định đó được giải
phóng và cho phép bên ký kết đó điều chỉnh thuế quan trong chừng mực thiết yếu
để bù đắp cho nhân tố bảo lãnh trong khoản thuế nội địa.

 

4.        
Sản phẩm nhập khẩu từ lãnh thổ của bất kể một bên ký kết nào vào lãnh thổ của bất
cứ một bên ký kết khác sẽ được hưởng đãi ngộ không kém phần thuận tiện hơn sự
đãi ngộ giành cho sản phẩm tương tự có xuất xứ nội về mặt pháp luật, quy tắc và
các quy định thúc đẩy đến bán hàng, rao bán, mua, chuyên chở, phân phối hoặc sử
dụng hàng trên thị trường nội địa. Các quy định của khoản này sẽ không ngăn cản
việc ứng dụng các khoản thu phí vận tải khác biệt chỉ hoàn toàn dựa vào yếu tố
kinh tế trong khai thác kinh doanh các phương tiện vận tải và không dưạ vào quốc
tịch của hàng hoá.

 

5.        
Không một bên ký kết nào sẽ ứng dụng hay duy trì một quy tắc định lượng nội địa
nào với pha trộn, sơ chế hay sử dụng sản phẩm tính theo khối lượng rõ ràng hay
theo tỷ lệ, trực tiếp hay gián tiếp đòi hỏi một khối lượng hay tỷ lệ nhất định
của bất kể một sản phẩm nào chịu sự điều chỉnh của quy tắc đó phải được phân phối
từ nguồn nội địa. Thêm vào đó, không một bên ký kết nào sẽ ứng dụng các quy tắc
định lượng trong nước theo cách nào khác trái với các phép tắc đã quy định tại
khoản 1.*

 

6.
        Các quy định của khoản 5 sẽ không áp
dụng với những quy tắc có hiệu lực trên lãnh thổ của bất kể bên ký kết nào vào
ngày 1 tháng 7 năm 1939, ngày 10 tháng 4 năm 1947 hay ngày 24 tháng 3 năm 1948
tuỳ bên ký kết liên quan chọn; miễn là các quy tắc trái với quy định của khoản
5 đó sẽ không bị điều chỉnh bất lợi hơn cho hàng nhập khẩu và chúng sẽ được xem
như là một khoản thuế quan để tiếp tục thương thảo.

 

7.        
Không một quy tắc định lượng nội địa nào điều chỉnh việc pha trộn, sơ chế hay
sử dụng tính theo khối lượng hay tỷ lệ sẽ được ứng dụng để phân bổ các khối lượng
hay tỷ lệ nêu trên theo xuất xứ của nguồn phân phối.

 

8.     
(α)        Các quy định của Điều khoản này sẽ
không ứng dụng với việc các đơn vị chính phủ sắm sửa nhằm mục đích cho tiêu
dùng của chính phủ chứ không phải để bán lại nhằm mục đích thương mại hay mang
vào sản xuất nhằm mục đích thương mại.

 

  (ɓ)     Các quy định của điều khoản này sẽ
không ngăn cản việc chi trả các khoản trợ cấp chỉ giành cho các nhà sản xuất nội
địa, kể cả các khoản khoản trợ cấp giành cho các nhà sản xuất nội địa có xuất xứ
từ các khoản thu  thuế nội địa ứng dụng phù phù hợp với các quy định của điều
khoản này và các khoản trợ cấp thực hiện thông qua việc chính phủ mua các sản
phẩm nội địa.

 

9.        
Các bên ký kết thừa nhận rằng các biện pháp kiểm tra giá tối đa, mặc dầu tuân
theo đúng các quy định khác của điều khoản này, có thể có làm tổn hại tới quyền
lợi của bên ký kết phân phối hàng nhập. Do vậy, các bên ký kết ứng dụng các biện
pháp kiểm tra giá tối đa sẽ xem xét đến quyền lợi của bên ký kết là bên xuất
khẩu nhằm hạn chế tối đa trong khuôn khổ các biện pháp có thể tực hiện được các
thúc đẩy bất lợi đó.

 

10.      
Các quy định của Điều này không ngăn cản các bên ký kết định ra hay duy trì các
quy tắc hạn chế số lượng nội địa liên quan tới số lượng phim trình chiếu ứng dụng
theo đúng các quy định của Điều IV.

 

Điều
IV

 

 

Nếu một bên
ký kết mang ra hay duy trì các quy định về số lượng phim ảnh trình chiếu, các
quy tắc này sẽ có hình thức hạn ngạch về thời gian trình chiếu và thỏa mãn các
quy định dưới đây:

 

   (α)     Hạn ngạch về thời gian trình
chiếu sẽ quy định thời gian chiếu phim có xuất xứ nội địa quy định tỷ trọng tối
thiểu trong tổng số thời gian thực trình chiếu phim với mục đích thương mại từ
mọi xuất xứ trong một thời kỳ không dưới một năm, và sẽ tính trên nền tảng thời
gian thực chiếu mỗi năm hoặc tương ứng tính theo từng rạp;

 

   (ɓ)    Ngoại trừ thời gian được hạn ngạch
quy định giành cho phim có xuất xứ quốc gia, thờì gian trình chiếu kể cả thời
gian chính quyền không sử dụng trong số hạn ngạch giành cho phim trong nước sẽ
không bị phân bổ một cách chính thức hay thực tiễn theo nguồn phân phối phim;

 

   (¢)     Không tác động tới các quy
định nêu trong tiểu khoản (ɓ) của Điều này, bất kể bên ký kết nào cũng có thể
duy trì hạn ngạch trình chiếu phù phù hợp với các yêu cầu nêu tại tiểu khoản (α) của
Điều khoản này, dành một phần tối thiểu trong thời gian trình chiếu để chiếu
phim từ một xuất xứ nhất định không phải là xuất xứ của bên ký kết ứng dụng hạn
ngạch; miễn là phần thời gian đó không vượt quá phần thực chiếu phim đó vào
ngày 10 tháng 4 năm 1947;

 

   ({d})    Hạn ngạch trình chiếu sẽ là đối tượng
thương thảo nhằm hạn chế phạm vi ứng dụng, mở rộng hạn ngạch hay triệt tiêu hoàn
toàn.

 

Điều
𝒱

 

 

1.        
Hàng hoá (kể cả hành lý), cũng như tàu biển và các phương tiện vận tải khác sẽ
được xem như là quá cảnh qua lãnh thổ một bên ký kết khi việc chuyển qua lãnh thổ,
dù có chuyển tải, lưu kho, tách lô hàng rời hay thay đổi phương thức vận tải
hay không nhưng vẫn chỉ là một phần của toàn chặng vận tải được khởi đầu và kết
thúc bên ngoài biên giới của bên ký kết có hàng đi qua lãnh thổ. Chuyên chở thuộc
loại này gọi là vận tải quá cảnh.

 

2.
        Các bên tự do chuyên chở hàng quá cảnh
qua lãnh thổ của mỗi bên ký kết, qua tuyến đường tiện lợi nhất cho quá cảnh quốc
tế, cho vận tải quá cảnh đi, đến hay xuất phát từ lãnh thổ của một bên ký kết
khác. Không có sự phân biệt nào được thực thi căn cứ vào phương tiện treo cờ
nào hay xuất xứ từ đâu, nơi đi, nơi đến hay ra vào cảng nào hay trong bất kỳ
trường hợp nào liên quan tới quyền sở hữu với hàng hoá, với tàu hay phương tiện
vận tải.

 

3.        
Bất kể một bên ký kết nào có thể yêu cầu hàng vận tải quá cảnh qua lãnh thổ
của mình vào một trạm hải quan thích hợp. Tuy nhiên, trừ trường hợp không tuân
thủ các luật hay quy tắc hải quan thông thường, vận tải quá cảnh đi đến hay
xuất phát từ lãnh thổ của các bên ký kết khác sẽ không bị làm chậm chễ hay bị hạn
chế không thiết yếu và sẽ được miễn mọi khoản thuế quan áp đặt với quá cảnh, trừ
các ngân sách vận tải hay các ngân sách phát sinh tương ứng về hành chính, về chuyển
tải hay ngân sách dịch vụ đã được phân phối.

 

4.        
Mọi ngân sách và quy tắc được các bên ký kết ứng dụng với vận tải quá cảnh đi từ
hay đi đến lãnh thổ của các bên ký kết khác sẽ ở mức hợp lý, có xem xét đến điều
kiện vận tải.

 

5.        
Với mọi ngân sách, quy tắc hay các thủ tục liên quan tới quá cảnh, mỗi bên ký kết
sẽ giành cho vận tải quá cảnh đi từ hay có xuất xứ từ lãnh thổ của bất kể một
bên ký kết nào khác sự đối xử không kém phần thuận tiện hơn sự đối xử giành cho vận
tải quá cảnh đi tới hay xuất phát từ lãnh thổ của bất kể bên thứ ba nào khác.

 

6.        
Mỗi bên ký kết sẽ giành cho hàng hoá đã qua vận tải quá cảnh trên lãnh thổ của một
bên ký kết nào khác sự đối xử không kém phần thuận tiện hơn sự đối xử lẽ ra sẽ
giành cho hàng hoá đó như hàng được vận tải từ nơi xuất phát tới nơi đến cuối
cùng không quá cảnh lãnh thổ một bên ký kết nói trên. Tuy nhiên bất kể một bên
ký kết nào cũng có thể duy trì các yêu cầu về việc gửi hàng trực tiếp đã tồn tại
vào ngày ký Hiệp định này, ứng dụng với bất kể hàng hoá nào được quy định phải
là gửi hàng trực tiếp mới đủ điều kiện nhập hàng qua cửa khẩu được hưởng thuế
quan ưu đãi hay liên quan tới phương pháp định giá được một bên ký kết quy định
nhằm mục đích ứng dụng thuế quan.

 

7.        
Các quy định của điều khoản này sẽ không ứng dụng với máy cất cánh quá cảnh nhưng lại
ứng dụng với hàng hoá quá cảnh kể cả với hành lý.

 

Điều
VI

 

 

1.        
Các bên ký kết nhận thấy rằng bán phá giá, tức là việc sản phẩm của một nước được
mang vào kinh doanh thương mại trên thị trường của một nước khác với giá thấp
hơn giá trị thông thường của sản phẩm, phải bị xử phạt nếu việc đó gây ra hoặc
đe doạ gây ra thiệt hại đáng kể cho một nghề sản xuất trên lãnh thổ của một
bên ký kết hay thực sự làm chậm chễ sự thành lập một nghề sản xuất trong nước.
Nhằm vận dụng điều khoản này, một sản phẩm được mang vào kinh doanh thương mại
trên thị trường của một nước khác với giá thấp hơn giá trị thông thường của
hàng hoá đó nếu giá xuất khẩu của sản phẩm từ một nước này sang nước khác

 

(α)     thấp hơn giá có thể so sánh trong điều kiện
thương mại thông thường với một sản phẩm tương tự nhằm mục đích tiêu dùng tại
nước xuất khẩu, hoặc

 

(ɓ)     trường hợp không có một giá nội địa như vậy,
thấp hơn một trong hai mức

 

(ι)    giá so sánh cao nhất của sản phẩm tương tự giành cho
xuất khẩu đến bất kể một nước thứ ba nào trong điều kiện thương mại thông thường,
hoặc

 

(ii)   giá thành sản xuất ra sản phẩm tại nước xuất xứ có cộng
thêm một mức hợp lý ngân sách bán hàng và lợi nhuận.

 

Trong mỗi trường hợp trên, sẽ có
xem xét điều chỉnh một cách thoả đáng so với các khác biệt về điều kiện và điều
khoản bán hàng, khác biệt về cơ chế thuế hay những sự chênh lệch khác có thúc đẩy
tới việc so sánh giá.*

 

2.        
Nhằm mục đích triệt tiêu tác dụng hay ngăn ngừa việc bán phá giá, một bên ký kết
có thể đánh vào bất kể một sản phẩm được bán phá giá nào một khoản thuế chống
bán phá giá nhưng không to hơn biên độ bán phá giá của sản phẩm đó. Trong
khuôn khổ Điều  này, biên độ bán phá giá được xem như là sự chênh lệch về giá
được xác nhận phù phù hợp với các quy định tại khoản 1.*

 

3.
        Thuế đối kháng không được phép đánh
vào một sản phẩm có xuất xứ từ lãnh thổ của một bên ký kết được nhập khẩu vào
lãnh thổ của một bên ký kết khác ở mức vượt quá mức tương ứng với khoản trợ giúp
hay trợ cấp đã xác nhận là đã được cấp trực tiếp hay gián tiếp cho sơ chế, sản
xuất hay xuất khẩu của sản phẩm đó tại nước xuất xứ hay nước xuất khẩu, trong
đó bao gồm cả các khoản trợ cấp đặc biệt cho việc chuyên chở sản phẩm đó. Thuật
ngữ thuế đối kháng được hiểu là một khoản thuế đặc biệt ứng dụng nhằm mục đích
triệt tiêu mọi khoản ưu đãi hay trợ cấp dành trực tiếp hay gián tiếp cho công
đoạn sơ chế, sản xuất hay xuất khẩu bất kể hàng hoá nào.

 

4         
Không một sản phẩm nào xuất xứ lãnh thổ của một bên ký kết nhập khẩu vào lãnh
thổ của một bên ký kết khác sẽ bị đánh thuế chống bán phá giá hay thuế đối
kháng với nguyên nhân đã được miễn thuế mà một sản phẩm tương tự phải trả khi tiêu thụ
tại nước xuất xứ hoặc xuất khẩu, hay vì lí do đã được hoàn lại các thuế đó.

 

5.        
Không một sản phẩm nào xuất xứ lãnh thổ của một bên ký kết nhập khẩu vào lãnh
thổ của một bên ký kết khác sẽ song song phải chịu cả thuế bán phá giá và thuế đối
kháng cho cùng một hoàn cảnh bán phá giá hay trợ cấp xuất khẩu.

 

6.      (α)
       Không một bên ký kết nào sẽ đánh thuế chống
bán phá giá hay thuế đối kháng với hàng nhập khẩu xuất xứ lãnh thổ của một bên
ký kết khác trừ khi đã xác nhận, tuỳ theo trường hợp rõ ràng, thực sự đã gây ra
hoặc đe doạ gây ra thiệt hại đáng kể cho một nghề sản xuất trong nước đã được
thiết lập hay làm chậm đáng kể việc lập nên một nghề sản xuất trong nước.

 

(ɓ)       Các Bên Ký Kết có thể cho phép miễn
thực hiện các yêu cầu của điểm (α) đoạn này, cho phép một bên ký kết ứng dụng
thuế chống bán phá giá hay thuế đối kháng với việc nhập khẩu bất kể sản phẩm
nào nhằm mục đích triệt tiêu việc bán phá giá hay trợ cấp đã gây ra hay đe doạ
gây ra thiệt hại đáng kể với một nghề sản xuất trên lãnh thổ của một bên ký kết
khác là bên xuất khẩu sản phẩm tương ứng vào lãnh thổ của bên ký kết nhập khẩu
sản phẩm đã nói trên. Các Bên Ký Kết sẽ miễn thực hiện các yêu cầu của điểm (α)
thuộc khoản này, cho phép một bên ký kết ứng dụng thuế đối kháng trong trường hợp
nhận thấy rằng việc trợ cấp đang gây ra hay đe doạ gây ra thiệt hại đáng kể cho
một nghề sản xuất trên lãnh thổ của một bên ký kết khác cũng xuất khẩu sản phẩm
tương ứng vào lãnh thổ của bên ký kết nhập khẩu sản phẩm.

 

(¢)        Tuy nhiên trong các
tình huống đặc biệt, nếu việc trì hoãn có thể gây ra tổn hại khó có thể khắc phục
được, một bên ký kết có thể đánh thuế đối kháng với mục đích như đã nêu tại điểm
(ɓ) của khoản này mà không cần được Các Bên Ký Kết thông qua trước; miễn rằng
phải thông báo lại ngay cho Các Bên Ký Kết biết và khi Các Bên Ký Kết không tán
thành thì sẽ rút bỏ ngay việc ứng dụng thuế này.

 

7.        
Một hệ thống ổn định giá trong nước hay ổn định sự hoàn vốn cho các nhà sản xuất
sản phẩm sơ cấp trong nước, không phụ thuộc vào biến động giá thành trong xuất khẩu
có khi dẫn tới bán hàng cho xuất khẩu với giá thấp hơn giá so sánh giành cho người
mua trên thị trường trong nước, sẽ không được suy diễn là dẫn tới tổn hại đáng
kể hiểu theo ý của khoản 6 nếu giữa các bên ký kết có quyền lợi đáng kể với sản
phẩm này sau khoảng thời gian tham vấn thấy rằng:

 

(α)   hệ thống đó cũng dẫn theo kết quả là sản phẩm được bán cho
xuất khẩu với giá chát hơn giá so sánh bán sản phẩm tương tự cho người mua trong
nước, và

 

(ɓ)   hệ thống cũng vận hành như vậy, hoặc trong điều chỉnh thực
tế sản xuất, hoặc một nguyên nhân nào khác, không dẫn tới hệ quả là xúc tiến không
chính đáng xuất khẩu hay làm tổn hại nghiêm trọng quyền lợi của các bên ký kết
khác.

 

 

Điều
VII

 

 

1.        
Các bên ký kết thừa nhận hiệu lực của các phép tắc chung về xác nhận trị giá
tính thuế quan nêu tại các khoản tiếp theo của Điều này và cam kết thực thi các
phép tắc đó với mọi sản phẩm phải chịu thuế quan và phụ thu* hoặc chịu các hạn
chế về nhập khẩu và xuất khẩu căn cứ vào hoặc điều chỉnh theo trị giá bằng bất
cứ cách nào. Ngoài ra, ngay khi một bên ký kết khác có yêu cầu, các bên sẽ xem
xét lại việc vận dụng bất kể luật hay quy chế nào liên quan tới trị giá tính
thuế quan căn cứ vào các phép tắc nêu ở đây. Các Bên Ký Kết có thể yêu cầu
(những) bên ký kết có giải trình về các bước đi đã được ứng dụng theo quy định của
điều khoản này.

 

2.      (α)      Trị giá
tính thuế quan với hàng nhập phải dựa vào giá trị thực của hàng nhập khẩu làm
nền tảng tính thuế quan, hoặc trị giá thực của hàng tương tự,  không được
phép căn cứ vào trị giá của hàng có xuất xứ nội hay trị giá mang tính áp đặt hoặc
được mang ra một cách vô căn cứ.

 

(ɓ)     “Giá trị thực” sẽ là giá thành hàng hoá
đó hay hàng hoá tương tự được bán hay rao bán vào một thời điểm và tại một địa
điểm được xác nhận theo pháp luật nước nhập khẩu theo các điều kiện thương mại
thông thường trong điều kiện đối đầu đầy đủ. Trong chừng mực hàng hoá đó hay
hàng tương tự bị chi phối bởi số lượng nối liền với một dịch vụ nhất định, giá
cả mang ra xem xét sẽ được căn cứ vào những điều kiện như vậy với (ι) số lượng
so sánh được hoặc các số lượng xác nhận không kém phần thuận tiện cho nhà nhập
khẩu tính theo giá lô hàng nhập khẩu lớn nhất trong quan hệ  thương mại giữa
nước xuất khẩu và nước nhập khẩu.

 

(¢)     Khi trị giá thực không xác nhận được theo quy
định tại điểm (ɓ) của khoản này, trị giá dùng để tính thuế quan sẽ là trị giá gần
nhất tương tự với trị giá nói trên.*

 

3.        
Trị giá để tính thuế quan của bất kể sản phẩm nhập khẩu nào sẽ không bao gồm bất
cứ khoản thuế nội địa nào, đã được nước xuất xứ hoặc xuất khẩu đã cho hoặc sẽ
cho hàng đó được miễn thuế hay hoàn thuế.

 

4.      (α)      Trừ
khi có quy định khác trong khoản này, để một bên ký kết vận dụng các quy định của
khoản 2 của Điều này vào việc quy đổi giá hàng tính bằng đồng tiền của một nước
khác sang nội tệ, tỷ giá quy đổi sẽ dựa trên trị giá tương ứng tuân thủ quy định
tại Các Điều khoản Thoả thuận của Quỹ Tiền tệ Quốc tế hoặc theo tỷ giá quy đổi
được Quỹ thừa nhận, hoặc theo trị giá tương ứng xác nhận phù phù hợp với một 
thoả thuận ngoại hối đặc biệt tuân thủ theo Điều XV của Hiệp định này.

 

(ɓ)     Khi không có chuẩn mực về trị giá tương ứng,
hay tỷ giá được thừa nhận đó, tỷ giá quy đổi sẽ phản ảnh đúng giá trị giao dịch 
thương mại của đồng tiền hiện thời.

 

(¢)     Các Bên Ký Kết, cùng thoả thuận với Quỹ tiền tệ
Quốc tế, sẽ xây dựng quy tắc điều chỉnh việc các bên ký kết ứng dụng cơ chế nhiều
tỷ giá quy đổi tiền tệ cho phù phù hợp với nội dung Điều khoản Thoả thuận của Quỹ
tiền tệ Quốc tế. Bất kể bên ký kết nào cũng có quyền ứng dụng các quy tắc này
trong quy đổi ngoại tệ nhằm các mục đích đã nêu tại khoản 2 của điều khoản này
thay cho trị giá tương ứng. Trong lúc chờ đợi Các Bên Ký Kết thông qua các quy
tắc đó, bất kể một bên ký kết nào cũng có thể sử dụng các quy tắc chuyển hóa nhằm
mục đích như nêu tại Điều 2 của điều khoản này đã được xây dựng để phản ảnh
đúng giá trị  thương mại của các ngoại tệ đó.

 

({d})     Không một quy định nào trong điều khoản này được
lập ra để đòi hỏi  bất kỳ một bên ký kết nào thay đổi các phép tắc có hiệu
lực trên lãnh thổ của mình vào ngày ký Hiệp định này, nếu sự thay đổi đó có tác
dụng nâng mức thuế trung bình đánh vào hàng nhập khẩu.

 

5.        
Nền tảng và phương pháp xác nhận trị giá sản phẩm chịu thuế quan hay các khoản thu
khác hoặc chịu các hạn chế dựa vào hay chịu sự điều chỉnh về trị giá theo bất kể
cách nào sẽ phải ổn định, thông báo rộng rãi đủ để thương nhân có thể ước tính được
trị giá để tính thuế với mức độ hợp lý về tính chắc cú.

 

Điều
VIII

 

1.      (α)      Mọi khoản
phí và khoản thu khác với bất kể tính chất nào (không phải là thuế xuất khẩu và
nhập khẩu cũng như các khoản thuế quy định tại điều III) được các bên ký kết áp
dụng nhằm vào hay liên quan tới hàng nhập khẩu hay hàng xuất khẩu sẽ chỉ hạn chế
trong chừng mực đủ bù các ngân sách phân phối dịch vụ và không mang tính chất bảo
hộ gián tiếp cho sản phẩm nội địa hay là thuế đánh vào xuất nhập khẩu với mục
đích thu ngân sách.

 

(ɓ)     Các bên ký kết thừa nhận nhu cầu giảm số lượng
và mẫu mã các khoản phí và khoản thu nêu tại tiểu mục (α).

 

(¢)     Các bên ký kết cũng thừa nhận nhu cầu hạn chế
xuống tối thiểu các thúc đẩy cũng như tính phức tạp của các thủ tục về xuất nhập
khẩu và nhu cầu giảm bớt và đơn giản hoá yêu cầu về chứng từ làm thủ tục xuất
nhập khẩu.*

 

2.        
Khi có yêu cầu của một bên ký kết khác hay của Các Bên Ký Kết, một bên ký kết sẽ
xem xét lại thực tiễn ứng dụng pháp luật và quy tắc của mình theo trí não của điều
khoản này.

 

3.        
Không một bên ký kết nào sẽ ứng dụng những khoản phạt đáng kể với những vi phạm
nhỏ về quy tắc hải quan hay các yêu cầu về thủ tục. Đặc biệt, với các lỗi sơ suất
hay lỗi về chứng từ hải quan có thể đính chính đơn giản và vi phạm không cố ý
gian trá hay không do các sơ suất lớn sẽ không bị phạt quá mức thiết yếu để cảnh
cáo.

 

4.        
Các quy định của điều khoản này sẽ được ứng dụng cả với các khoản phí, thủ tục
và các yêu cầu của đơn vị chính phủ về xuất nhập khẩu, kể cả các yêu cầu 
liên quan tới:

           
(α) dịch vụ của đơn vị lãnh sự như là cấp hoá đơn hay giấy chứng thực lãnh sự;

           
(ɓ) hạn chế định lượng;

           
(¢) chứng nhận;

           
({d}) kiểm tra ngoại hối;

           
(e) dịch vụ thống kê;

           
(ƒ) lập chứng từ, phân phối chứng từ và chứng thực / công chứng;

           
(ɢ) phân tích và thẩm định; và

           
(н) vệ sinh dịch tễ và hun trùng.

 

Điều
IX

 

 

1.
        Mỗi bên ký kết sẽ giành cho hàng hoá
xuất xứ từ lãnh thổ của một bên ký kết khác sự đãi ngộ về quy định so với nhãn
hàng hoá không kém phần thuận tiện hơn sự đãi ngộ giành cho sản phẩm tương tự của
một nước thứ 3 khác.

 

2.
        Các bên ký kết thừa nhận rằng, khi vận
dụng và thực thi luật và các quy tắc về nhãn xuất xứ, các biện pháp ứng dụng có
thể gây khó khăn và bất tiện cho  thương mại và công nghiệp của nước xuất
khẩu cần được giảm thiểu hết mức, đồng thời quan tâm đúng mức tới quyền lợi của
người tiêu dùng chống lại các ký hiệu man trá và gây hiểu nhầm.

 

3.
        Khi có điều kiện hành chính để thực
hiện, các bên ký kết cần cho phép các nhãn xuất xứ dán sẵn tại thời điểm nhập
khẩu.

 

4.
        Luật lệ và quy tắc của các bên ký kết
về nhãn hàng hoá nhập khẩu cần cho phép tuân thủ mà không gây tổn hại lớn tới sản
phẩm, hoặc thực sự làm giảm giá trị hay làm tăng ngân sách không thiết yếu.

 

5.        
Như một quy tắc chung, các bên ký kết sẽ không áp đặt thuế riêng hay phạt với
việc không thỏa mãn các yêu cầu về nhãn hàng trước khi nhập khẩu trừ khi không
có những biện pháp sửa chữa kịp thời hợp lý, hay đã cố ý không dán nhãn hàng.

 

6.        
Các bên ký kết sẽ cùng nhau hợp tác nhằm ngăn ngừa việc sử dụng thương danh
theo cách làm hiểu nhầm xuất xứ của sản phẩm, làm tổn hại đến các tên sản phẩm
theo địa danh hay theo khu vực của một bên ký kết đã được pháp luật bảo lãnh. Mỗi
bên ký kết sẽ nhìn nhận đầy đủ, thuận tiện, khi xem xét các yêu cầu của một bên
ký kết về việc thực thi các cam kết nêu tại câu ngay trước đó thuộc khoản này
ứng dụng với tên sản phẩm đã được các bên ký kết khác thông báo.

 

Điều
Ҳ

 

1.
        Các luật, quy tắc, quyết định pháp
luật và quy tắc hành chính có hiệu lực chung, được bất kể bên ký kết nào ứng dụng
liên quan tới việc phân loại hay định trị giá sản phẩm nhằm mục đích thuế quan,
hay liên quan tới suất thuế quan, thuế hay phí, hay tới các yêu cầu, các hạn chế
hay cấm nhập khẩu hay xuất khẩu hay thanh toán tiền hàng xuất nhập khẩu, hay có
thúc đẩy tới việc bán, phân phối, vận tải, bảo hiểm, lưu kho, thẩm định, trưng
bày, sơ chế, pha trộn hay sử dụng hàng hoá theo cách nào khác sẽ được thông báo
khẩn trương bằng cách nào đó để các chính phủ hay các triệu phú biết. Các hiệp
định có thúc đẩy tới  thương mại quốc tế đang có hiệu lực giữa chính phủ
hay đơn vị chính phủ với chính phủ hay đơn vị chính phủ của bất kể bên ký kết
nào cũng sẽ được thông báo. Các quy định của Điều này sẽ không yêu cầu bất kể một
bên ký kết nào phải điểm lộ thông tin mật có thể gây trở ngại cho việc thực thi
pháp luật, hoặc trái với quyền lợi chung hoặc gây tổn hại quyền lợi thương mại
chính đáng của một doanh nghiệp nào đó dù là quốc doanh hay tư nhân.

 

2.        
Các Bên ký kết sẽ không thực thi trước khi thông báo chính thức bất kể biện pháp
nào có phạm vi ứng dụng chung mang tính chất nâng suất thuế quan hay nâng các
khoản thu khác đánh vào hàng nhập thuộc diện đang thực hiện thống nhất và đã mặc
định, hoặc áp đặt ở mức cao hơn một yêu cầu, một hạn chế nhập khẩu hay hạn chế
về chuyển tiền thanh toán hàng nhập khẩu.

 

3.        (α)    Mỗi bên
ký kết sẽ quản lý pháp luật, quy tắc, các quyết định hay quy chế đã nêu tại khoản
1 của điều khoản này một cách thống nhất, vô tư và hợp lý.

 

(ɓ)   Mỗi bên ký kết sẽ duy trì hay thiết lập, sớm nhất có thể,
các toà án và thủ tục về chấp pháp, trọng tài hay hành chính cũng như các nội
dung khác, nhằm mục đích xem xét và điều chỉnh khẩn trương các hành vi hành chính
trong ngành nghề hải quan. Các đơn vị xét xử và các thủ tục đó sẽ độc lập với
các đơn vị hành chính được giao nhiệm vụ thực thi và các quyết định xét xử sẽ
được các đơn vị hành chính đó thi hành và có hiệu lực điều chỉnh hành vi chính
quyền, trừ khi có kháng án trong cùng thời hạn kháng án ứng dụng với các nhà nhập
khẩu; cấp thẩm quyền trung ương của đơn vị đó có thể có phương
thức để xem xét lại vấn đề theo một quy trình khác nếu có nguyên nhân chính đáng để
tin rằng quyết định đó không thỏa mãn các phép tắc pháp luật đã tạo nên và
thực tiễn vụ việc.

 

(¢)  Các quy định của điểm (ɓ) thuộc khoản này sẽ không yêu cầu
phải triệt tiêu hay thay thế các thủ tục có hiệu lực trên lãnh thổ của một bên
ký kết vào ngày Hiệp định này được ký kết mà trong thực tiễn đã xem xét khách
quan và vô tư các hành vi của chính quyền dẫu rằng các thủ tục đó không hoàn
toàn hoặc về hình thức không độc lập với các đơn vị được giao nhiệm vụ thực
thi hành chính. Khi được yêu cầu bất kỳ bên ký kết nào ứng dụng quyết sách biện
pháp nêu trên sẽ phân phối cho Các Bên Ký Kết thông tin đầy đủ về các biện pháp
đó, để Các Bên Ký Kết có thể định đoạt rằng các thủ tục đó có thỏa mãn các yêu cầu
của tiểu doạn này hay không.

 

Điều
XI

 

1.
        Không một sự cấm hay hạn chế nào
khác ngoại trừ thuế quan và các khoản thu khác, dù mang hình thức hạn ngạch, giấy
phép nhập khẩu hay xuất khẩu hoặc các biện pháp khác sẽ được bất kể một bên ký
kết nào định ra hay duy trì nhằm vào việc nhập khẩu từ lãnh thổ của bất kỳ bên
ký kết nào hay nhằm vào việc xuất khẩu hay bán hàng để xuất khẩu đến lãnh thổ của
bất kỳ bên ký kết nào.

 

2.
        Các quy định của khoản 1 trong điều
khoản này sẽ không được ứng dụng với các trường hợp dưới đây:

 

(α)     Cấm hay hạn chiết xuất khẩu tạm thời ứng dụng nhằm
ngăn ngừa hay khắc phục sự khan hiếm trầm trọng về lương thực hay các sản phẩm
khác mang tính trọng yếu so với với Bên ký kết đang xuất khẩu;

 

(ɓ)     Cấm  hay hạn chiết xuất khẩu thiết yếu để
ứng dụng các tiêu chuẩn hay quy chế về phân loại, xếp hạng hay tiếp thị các sản
phẩm trên thị trường quốc tế;

 

(¢)     Hạn chế nhập khẩu nông sản hay thuỷ sản dù nhập
khẩu dưới bất kể hình thức nào nhằm triển khai các biện pháp của chính phủ được
ứng dụng:

 

(ι)      để hạn chế số lượng các sản phẩm nội địa
tương tự được phép tiêu thụ trên thị trường hay sản xuất, hoặc là nếu không có
một nền sản xuất trong nước đáng kể, thì để hạn chế số lượng một sản phẩm nội địa
có thể bị sản phẩm nhập khẩu trực tiếp thay thế; hoặc

 

(ii)      để ngoại trừ tình trạng dư thừa một sản
phẩm nội địa tương tự, hoặc nếu không có nền sản xuất một sản phẩm nội địa
tương tự, để ngoại trừ tình trạng dư thừa một sản phẩm nhập khẩu trực tiếp thay
thế, bằng cách đem số lượng dư thừa để phục vụ một nhóm người tiêu dùng miễn
phí hay giảm giá dưới giá thị trường; hoặc

 

(iii)     để hạn chế số lượng cho phép sản xuất với
một súc sản mà việc sản xuất lại phụ thuộc trực tiếp một phần hay toàn thể vào một
mặt hàng nhập khẩu, nếu sản xuất mặt hàng đó trong nước tương đối nhỏ.

           

Bất kể một bên ký kết nào khi áp
dụng hạn chế nhập khẩu bất kể một sản phẩm nào theo nội dung điểm (¢) của khoản
này sẽ thông báo tổng khối lượng hay tổng trị giá của sản phẩm được phép nhập khẩu
trong một thời kỳ nhất định trong tương lai và mọi thay đổi về số lượng hay trị
giá nói trên. Không chỉ thế, bất kể sự hạn chế nào được ứng dụng theo nội dung mục
(ι) nói trên cũng không nhằm hạn chế tổng khối lượng nhập khẩu trong tương quan
với tổng khối lượng được sản xuất trong nước, so với tỷ trọng hợp lý có thể có
trong điều kiện không có hạn chế. Khi xác nhận tỷ trọng này bên ký kết đó cần
quan tâm đúng mức tới tỷ trọng đã có trong một thời gian đại diện trước đó hay
quan tâm tới một nhân tố tách biệt nào đó có thể đã hay đang tác động tới sản
phẩm liên quan.

 

Điều
XII
*

 

1.
        Không trái với quy định tại khoản 1
của Điều XI, bất kể bên ký kết nào, để bảo vệ tình hình tài chính đối ngoại và
cán cân thanh toán, có thể hạn chế số lượng hay trị giá hàng hoá cho phép nhập
khẩu, theo quy định tại các khoản dưới đây của điều khoản này.

 

2.        (α)
     Các hạn chế nhập khẩu được định ra, duy trì hay mở rộng
theo quy định của điều khoản này sẽ không vượt quá mức thiết yếu:

 

(ι)    để ngăn ngừa mối đe doạ hay để ngăn chặn sự suy giảm
nghiêm trọng dự trữ ngoại hối.

(ii) trong trường hợp một bên ký kết có dự trữ ngoại hối rất thấp, để
nâng dự trữ ngoại hối lên một mức hợp lý.

 

    
Trong cả hai trường hợp cần phải có sự quan tâm đúng mức đến bất kể nhân tố đặc biệt
nào có thể thúc đẩy đến dự trữ hay nhu cầu về dự trữ của một bên ký kết, trong
đó có tín dụng đặc biệt vay nước ngoài hay những nguồn khác có thể tiếp cận,
nhu cầu sử dụng thích hợp tín dụng hay các nguồn đó.

     

(ɓ)     Các bên ký kết khi ứng dụng các hạn chế nêu tại
đoạn (α) của khoản này sẽ nới lỏng các hạn chế đó khi các điều kiện dẫn tới hạn
chế được cải tổ, chỉ duy trì các hạn chế đó ở mức độ các điều kiện đã nêu tại
đoạn đó còn minh chứng được sự thiết yếu phải ứng dụng. Họ sẽ loại bỏ các hạn chế
khi các điều kiện không còn minh chứng được việc định ra hay duy trì các biện
pháp đó theo như quy định tại điểm (α) đó.

 

3.      (α)
       Các bên ký kết chấp thuận, trong lúc thực
hành quyết sách trong nước, sẽ quan tâm đúng mức đến nhu cầu duy trì hoặc lập lại
sự thăng bằng cán cân thanh toán trên một nền tảng lành mạnh và lâu dài và tới
muốn tránh việc sử dụng phi kinh tế các nguồn lực sản xuất. Các bên thừa
nhận rằng nhằm đạt tới các mục đích này, trong chừng mực cao nhất có thể cần vận
dụng các biện pháp có tính chất mở rộng thương mại hơn là các biện pháp ngăn cản
thương mại.

 

(ɓ)       Các bên ký kết ứng dụng các hạn chế
theo điều khoản này có thể xác nhận thúc đẩy của các hạn chế lên việc nhập khẩu
các sản phẩm hay nhóm sản phẩm khác nhau để ưu tiên cho việc nhập khẩu các sản
phẩm trọng yếu hơn.

 

(¢)        Các bên ký kết ứng dụng các hạn
chế theo điều khoản này cam kết:

 

(ι)    tránh gây tổn hại không thiết yếu cho quyền lợi
thương mại và kinh tế của bất kỳ bên ký kết nào.

(ii)  không ứng dụng các hạn chế nhằm ngăn ngừa bất hợp lý việc
nhập khẩu bất kỳ sản phẩm nào có số lượng  thương mại tối thiểu, nếu loại
trừ số lượng đó có thể làm xáo trộn các kênh thương mại bình thường.

 

({d})       Các bên ký kết thừa nhận rằng việc
một bên ký kết ứng dụng quyết sách nội địa hướng tới đạt được và tạo đủ công ăn
việc làm và phát triển nguồn lực kinh tế có thể dẫn tới việc bên ký kết đó có
nhu cầu cao về nhập khẩu bao gồm cả mối đe doạ với dự trữ ngoại hối như đã nêu
tại khoản 2 (α) của điều khoản này. Do vậy, một bên ký kết khi đã tuân thủ đầy
đủ các quy định khác của điều khoản này sẽ không phải huỷ bỏ hay điều chỉnh các
hạn chế, bởi vì nếu có sự điều chỉnh quyết sách thì các các hạn chế ứng dụng
theo điều khoản này sẽ trở thành không thiết yếu.

 

4.      (α)
       Bất kỳ bên ký kết nào khi ứng dụng các hạn
chế mới hay nâng mức hạn chế của các biện pháp đang ứng dụng sẽ tham vấn ngay
(hoặc nếu có thể thì tham vấn trước) Các Bên Ký Kết về tính chất của các khó
khăn về cán cân thanh toán, các biện pháp có thể được vận dụng thay thế và các
thúc đẩy có thể của các hạn chế với nền kinh tế của các bên ký kết khác.

 

(ɓ)       Các Bên Ký Kết sẽ xem xét lại, vào
một ngày sẽ được các bên ký kết xác nhận sau này, mọi hạn chế cho tới khi đó vẫn
còn được ứng dụng theo quy định của điều khoản này. Trong thời hạn 1 năm kể từ
ngày nêu trên, các bên ký kết còn ứng dụng các hạn chế với hàng nhập khẩu theo
trí não của điều khoản này, theo sẽ tiến hành tham vấn hàng năm với Các Bên
Ký Kết vơi hình thức đã nêu tại điểm (α) của khoản này.

 

(¢)       (ι)    Nếu khi tham
vấn căn cứ theo quy định tại điểm (α) hoặc điểm (ɓ) nêu trên, Các Bên Ký Kết thấy
rằng các hạn chế không tương thích với các quy định tại điều khoản này hay các
quy định của Điều VIII (với bảo lưu thích hợp các quy định của điều XIV), họ sẽ
nêu ra tính chất bất cập và có thể kiến nghị việc điều chỉnh các hạn chế cho
thích hợp.

           
(ii) Nếu mặc dù đã tham vấn, Các Bên Ký Kết xác nhận rằng các hạn chế đã được
ứng dụng dẫn tới trái nghiêm trọng với các quy định của Điều này hoậc các quy định
của Điều XIII (với các bảo lưu tại Điều XIV) và các biện pháp đó dẫn tới làm
thiệt hại hay đe doạ làm thiệt hại cho thương mại của một bên ký kết, Các Bên
Ký Kết sẽ thông báo ý kiến cho bên ký kết đang ứng dụng hạn chế biết đồng thời
có khuyến nghị thích hợp để trong một thời gian nhất định bên ký kết đó tuân thủ
các quy định liên quan đã nêu. Nếu bên ký kết đó vẫn không tuân thủ các khuyến
nghị đó, Các Bên Ký Kết có thể cho phép bất kỳ một bên ký kết nào bị tác động
của các hạn chế đó được miễn bất kỳ nghĩa vụ nào so với bên ký kết ứng dụng hạn
chế đó, thuộc phạm vi của Hiệp định này được Các Bên Ký Kết coi là thích hợp, tuỳ
theo tình huống rõ ràng.

 

({d})       Các bên ký kết sẽ mời bất kỳ bên
ký kết nào hiện đang ứng dụng các hạn chế theo trí não của điều khoản này,
tham vấn khi một bên ký kết có yêu cầu và thấy có triệu chứng ứng dụng các hạn chế
không phù phù hợp với các quy định của điều khoản này hay của Điều XIII (với bảo
lưu thích hợp các quy định của điều XIV) và làm thiệt hại cho  thương mại của
một bên ký kết. Tuy nhiên, Các Bên Ký Kết chỉ mang ra đề xuất tham vấn chung khi
thấy rằng tham vấn trực tiếp giữa các bên ký kết có liên quan đã không thành. Nếu
không đạt được một thoả thuận tại các cuộc tham vấn với Các Bên Ký Kết và Các
Bên Ký Kết xác nhận rằng các hạn chế đã được ứng dụng một cách không phù phù hợp với
các quy định nêu trên và dẫn tới thiệt hại hay đe doạ gây thiệt hại cho thương
mại của bên ký kết nào đặt vấn đề tham vấn, Các Bên Ký Kết sẽ khuyến nghị rút bỏ
hay điều chỉnh các hạn chế đó. Nếu các hạn chế không được rút bỏ hay điều chỉnh
trong thời hạn đã được Các Bên Ký Kết quy định đó, Các Bên Ký Kết có thể miễn
cho bên ký kết đã khởi đầu các thủ tục tham vấn các nghĩa vụ thuộc phạm vi Hiệp
định này được xem như là thích đáng, tuỳ vào hoàn cảnh rõ ràng được Các Bên Ký Kết
xác nhận, so với bên ký kết đang ứng dụng các hạn chế.

Xem Thêm  Top 10 kết quả tìm kiếm choi game anh hung mới nhất 2022

 

(e)        Khi tiến hành các thủ tục
theo quy định của khoản này, Các Bên Ký Kết sẽ tính đến mọi nhân tố bên ngoài
có tính chất đặc biệt làm thiệt hại cho xuất khẩu của bên ký kết đang ứng dụng
các hạn chế.*

 

(ƒ)        Những nhận xét nêu trên cần
được tiến hành nhanh chóng và nếu có thể được cần tiến hành trong vòng 60 ngày
kể từ ngày khởi đầu tham vấn.

 

5.        
Trong trường hợp các hạn chế số lượng được ứng dụng với hàng nhập khẩu theo tinh
thần của điều khoản này có tính chất kéo dài và có thể dẫn tới sự mất thăng bằng
chung làm giảm khối lượng thương mại quốc tế, Các Bên Ký Kết sẽ tiến hành thảo
luận để xem xét việc các biện pháp khác có thể được các bên ký kết đang có cán
cân thanh toán chịu thúc đẩy bất lợi hay các bên ký kết đang có cán cân thanh
toán đặc biệt thuận tiện hoặc mọi tổ chức liên chính phủ có khả năng thi hành nhằm
xoá bỏ nguyên nhân cơ bản của sự mất thăng bằng cán cân đó. Khi được Các Bên
Ký Kết mời, mỗi bên ký kết sẽ tham gia thương thảo như đã nêu trên.

 

 

Điều
XIII
*

1.        
Không một sự cấm hay hạn chế nào sẽ được bất kỳ một bên ký kết nào ứng dụng với
việc nhập khẩu bất kỳ một sản phẩm nào có xuất xứ từ lãnh thổ của một bên ký kết
khác hay với một sản phẩm xuất khẩu đến lãnh thổ của bất kỳ một bên ký kết
khác, trừ khi những sự cấm đoán hạn chế tương tự cũng được ứng dụng với sản phẩm
tương tự có xuất xứ từ một nước thứ ba hay với một sản phẩm tương tự xuất khẩu
đi một nước thứ ba.

 

2.        
Khi ứng dụng các hạn chế với nhập khẩu một sản phẩm nào đó, các bên ký kết sẽ cố
gắng đạt đến sự phân bổ về thương mại sản phẩm đó gần nhất với tình trạng
thương mại của sản phẩm này mà các bên ký kết khác nhau có thể có được trong
hoàn cảnh không có các hạn chế đó, và các bên ký kết sẽ tuân thủ các quy định
sau:

 

(α)     Khi có thể tiến hành được, tổng hạn ngạch cho
phép nhập khẩu (dù có phân bổ giữa cho các nhà sản xuất hay không) sẽ được xác
định và thông báo theo quy định của điểm ɓ) khoản 3 của Điều này.

 

(ɓ)     Khi không thể xác nhận được tổng hạn ngạch,
các hạn chế có thể được ứng dụng bằng cách cấp giấy phép nhập khẩu không có tổng
khối lượng.

 

(¢)     Trừ khi vận dụng hạn ngạch phân bổ phù phù hợp với
điểm {d}) thuộc khoản này, các bên ký kết sẽ không mang ra quy định rằng giấy phép
nhập khẩu được sử dụng để nhập khẩu một sản phẩm xác nhận có xuất xứ từ một nước
hay một nguồn rõ ràng nào.

 

({d})     Trong trường hợp hạn ngạch được phân bổ giữa
các nước phân phối, bên ký kết đang ứng dụng hạn ngạch có thể thoả thuận với các
bên ký kết có quyền lợi đáng kể trong việc phân phối sản phẩm đó về mức được
phân bổ. Trong những trường hợp phương thức nêu trên không hợp lý, bên ký kết
nói trên sẽ phân tách hạn ngạch thành các phần tương ứng cho các bên ký kết có
quyền lợi đáng kể trong việc phân phối sản phẩm đó theo tỷ lệ tham gia của mỗi
bên ký kết trong nhập khẩu một hàng đó trong một thời kỳ trước đó có tính đại
diện, có tính đến mọi nhân tố đặc biệt có thể thúc đẩy đến thương mại của sản
phẩm đó. Không một điều kiện hay thủ tục riêng nào mang tính chất ngăn cản một
bên ký kết sử dụng hết phần hạn ngạch đã được phân bổ, được đưa ra với điều kiện
hàng được nhập khẩu trong thời hạn đã quy định trong giấy phép sử dụng hạn ngạch. 

 

3.        (α)
     Trong trường hợp ứng dụng việc chứng nhận nhập khẩu
khi  hạn chế nhập khẩu, khi các bên ký kết quan tâm tới việc nhập khẩu sản
phẩm nói trên có yêu cầu, bên ký kết đang ứng dụng hạn chế sẽ phân phối các thông
tin hữu ích liên quan tới việc ứng dụng các hạn chế, các giấy phép đã cấp trong
thời gian gần đó và việc phân bổ giấy phép giữa các nước phân phối, tuy nhiên
không phải phân phối tên các nhà nhập khẩu hay nhà sản xuất.

 

(ɓ)     Trong trường hợp hạn chế nhập khẩu thông qua hạn
ngạch, bên ký kết đang ứng dụng hạn chế sẽ thông báo tổng khối lượng và tổng trị
giá của sản phẩm được phép nhập khẩu trong thời kỳ sắp tới cũng như thông báo mọi
thay đổi liên quan. Nếu một sản phẩm nào đó đang trên đường vận tải khi việc
hạn chế được thông báo, hàng hoá sẽ không bị từ chối nhập khẩu khi tới cảng. Tuy
nhiên được phép khấu trừ, trong chừng mực có thể, trong số lượng cho phép nhập
khẩu trong thời kỳ có hạn chế số lượng nêu trên và nếu cần, khấu trừ trong số
lượng cho phép nhập khẩu vào thời kỳ tiếp theo. Ngoài ra nếu một bên ký kết,
theo thông lệ, miễn ứng dụng hạn chế sản phẩm với các sản phẩm được hoàn thiện
thủ tục hải quan trong vòng 30 ngày kể từ ngày thông báo Danh sách hạn chế được
coi là thoả mãn hoàn toàn các quy định của điểm này.

 

(¢)     Trong trường hợp hạn ngạch được phân bổ giữa
các nước phân phối, bên ký kết ứng dụng hạn chế sẽ thông báo trong thời hạn ngắn
nhất toàn bộ các bên ký kết quan tâm tới việc phân phối sản phẩm liên quan về phần
hạn ngạch được phân bổ cho các nước phân phối khác nhau, tính theo khối lượng và
trọng lượng, thời hạn có hiệu lực và thông báo mọi thông tin hữu ích liên quan.

 

4.        
Với các hạn chế ứng dụng phù phù hợp với khoản 2 {d}) của Điều này hay khoản 2 ¢) của
Điều XI, trước tiên Bên ký kết ứng dụng các hạn chế tự mình chọn thời kỳ đại diện
cho mỗi sản phẩm cũng như bất kỳ nhân tố đặc biệt nào thúc đẩy đến thương mại của
sản phẩm đó. Tuy nhiên, khi một Bên ký kết có quyền lợi đáng kể trong việc cung
cấp  sản phẩm đó yêu cầu hay Các Bên Ký Kết có yêu cầu, bên ký kết nói
trên sẽ tham vấn không chậm trễ với bên ký kết kia hoặc Các Bên Ký Kết về việc
cần xem xét lại tỷ lệ phần trăm đã phân bổ hay thời kỳ đại diện đã được chọn
hay nhận xét về các nhân tố đặc biệt mới đã được mang vào tính toán, hay loại bỏ
các điều kiện, thủ tục, hay các quy định khác được mang ra một cách đơn phương
và có liên quan tới việc phân bổ hạn ngạch cho thích hợp hay việc sử dụng hạn
ngạch không bị hạn chế.

 

5.        
Các quy định của Điều này cũng được ứng dụng với hạn ngạch thuế quan được một
bên ký kết đưa ra hay duy trì; hơn nữa, trong chừng mực có thể, các phép tắc
này cũng được ứng dụng với các biện pháp hạn chiết xuất khẩu.

 

Điều
XIV
*

1.        
Một bên ký kết đang ứng dụng các hạn chế theo điều XII hoặc theo điểm Ɓ của điều
XVIII, khi vận dụng các hạn chế này có thể làm trái các quy định tại điều XIII trong
chừng mực làm trái có thúc đẩy tương ứng với các hạn chế về thanh toán và chuyển
tiền liên quan tới các giao dịch quốc tế vãng lai mà bên ký kết đó được phép vận
dụng cùng với hay theo quy định của điều XIV Điều lệ Quỹ Tiền Tệ Quốc tế (IMF),
hoặc theo các quy định tương ứng của một Hiệp định đặc biệt được ký kết chiểu
theo khoản 6 của điều XV*.

 

2.        
Một bên ký kết đang ứng dụng các hạn chế nhập khẩu theo điều XII hoặc theo điểm
Ɓ của điều XVIII khi được sự thoả thuận của Các Bên Ký Kết có thể tạm thời làm
trái với các quy định của điều XIII với một phần nhỏ trong tổng lượng ngoại
thương của mình nếu mặt lợi mang lại cho bên ký kết đó hay các bên ký kết liên
quan vượt một cách đáng kể trên mức độ thiệt hại do việc làm trái có thể gây ra
cho các bên ký kết khác*.

 

3.        
Các quy định của điều XIII không ngăn cản một nhóm lãnh thổ trong khuôn khổ của
Quỹ Tiền Tệ Quốc tế (IMF), sử dụng chung một hạn ngạch tại IMF, ứng dụng các hạn
chế nhập khẩu với các nước ngoài nhóm mà không hạn chế các trao đổi giữa họ với
nhau, phù phù hợp với các quy định của điều XII hoặc của điểm Ɓ) điều XII, với điều
kiện và xét về các mặt khác phải phù phù hợp với các quy đinh của điều XIII.

 

4.        
Các quy định của điều XI và XV hoặc của điểm Ɓ) điều XIII của Hiệp định này không
ngăn cản một một bên ký kết đang ứng dụng các hạn chế nhập khẩu phù phù hợp với các
quy định của điều XII hoặc của mục Ɓ điều XIII, ứng dụng các biện pháp nhằm định
hướng xuất khẩu nhằm tăng thêm nguồn thu ngoại tệ cần phải có mà không trái với quy
định của điều XIII.

 

5.        
Các quy định của điều XI và XV hoặc của điểm Ɓ điều XIII của Hiệp định này
không ngăn cản một một bên ký kết ứng dụng:

 

α)       các hạn chế số lượng có tác dụng
tương ứng với các hạn chế ngoại hối đươc phép ứng dụng theo trí não của điểm
3b) điều VII của Điều lệ Quỹ Tiền Tệ Quốc tế ( (IMF);

 

ɓ)      hoặc các hạn chế số lượng phù phù hợp với
các thoả thuận ưu đãi đã dự kiến tại Phụ lục 𝓐 của Hiệp định này, trong lúc chờ
đợi kết quả của quyết sách cuộc thương lượng nêu tại phụ lục đó.

 

Điều
XV

 

1.        
Các Bên Ký Kết sẽ nỗ lực phối phù hợp với Quỹ Tiền Tệ Quốc tế nhằm duy trì chính
sách có sự điều phối chung về những vấn đề ngoại hối thuộc thẩm quyền của Quỹ
Tiền Tệ Quốc tế (IMF) và các hạn chế số lượng hay các biện pháp thương mại khác
thuộc thẩm quyền của Các Bên Ký Kết.

 

2.        
Trong mọi trường hợp khi Các Bên Ký Kết cần xem xét hay khắc phục những vấn đề
có liên quan tới dự trữ tiền tệ, tới cán cân thanh toán hay các quy định có
liên quan tới ngoại hối, Các Bên sẽ tham vấn chặt chẽ với Quỹ. Trong quá trình
tham vấn, Các Bên Ký Kết sẽ chấp thuận tổng kết của Quỹ về thực tiễn hay số liệu về
dự trữ ngoại hối hay cán cân thanh toán; Các Bên cũng sẽ chấp thuận tổng kết của
quỹ về tính thích hợp của các biện pháp về ngoại hối đã được một bên ký kết vận dụng,
so với Điều lệ của Quỹ hay các quy định của hiệp định đặc biệt được ký kết giữa
bên ký kết đó và Các Bên Ký Kết. Khi phải có quyết định cuối cùng trong trường
hợp cần xem xét đến các tiêu thức nêu tại điểm α) khoản 2 điều XII hoặc khoản 9
điều XVIII, Các Bên Ký Kết sẽ chấp thuận các tổng kết của Quỹ riêng về các yếu tố
để xác nhận liệu dự trữ ngoại hối của một bên ký kết đã có sự suy giảm nghiêm
trọng hay không, liệu hiện dự trữ đó có đang ở mức rất thấp hay không hay dự trữ
đang tăng dần với mức hợp lý, cũng như những mặt tài chính của các vấn đề mà
Các Bên sẽ xem xét trong các trường hợp tương tự.

 

3.        
Các Bên Ký Kết sẽ cùng Quỹ thoả thuận về thủ tục tham vấn như đã nêu tại khoản
2 điều khoản này.

 

4.        
Các bên ký kết sẽ không ứng dụng các biện pháp ngoại hối trái với mục tiêu được
quy định tại Hiệp định này và mọi biện pháp thương mại trái với mục tiêu được
quy định tại Điều lệ của Quỹ Tiền Tệ Quốc tế).

 

5.        
Nếu vào một thời điểm nào đó Các Bên Ký Kết cho rằng một bên ký kết đang ứng dụng
các hạn chế về thanh toán và về chuyển tiền liên quan tới nhập khẩu, không phù
phù hợp với những ngoại lệ về hạn chế số lượng đã dự kiến tại Hiệp định này, Các
Bên sẽ gửi giải trình tới Quỹ.

 

6.        
Mọi bên ký kết không phải thành viên của Quỹ sẽ phải tham vấn và trở thành
thành viên của Quỹ trong thời hạn do Các Bên Ký Kết xác nhận hoặc nếu không sẽ
phải thoả thuận với Các Bên Ký Kết một hiệp định đặc biệt về ngoại hối. Một bên
ký kết khi không đang là thành viên của Quỹ sẽ phải ký ngay với chính Các Bên Ký
Kết một hiệp định đặc biệt về ngoại hối. Mọi hiệp định đặc biệt về ngoại hối được
một bên ký kết ký theo nội dung của khoản này sẽ có hiệu lực là một phòng ban của
các cam kết ràng buộc bên ký kết đó theo các điều khoản của Hiệp định này.

 

7.        α)
      Mọi Hiệp dịnh đặc biệt về ngoại hối ký kết giữa
một bên ký kết và Các Bên Ký Kết theo trí não khoản 6 của điều khoản này sẽ
có các điều khoản mà Các Bên Ký Kết thấy thiết yếu để các biện pháp về ngoại hối
được bên ký kết đó ứng dụng sẽ không trái với nội dung Hiệp định này.

 

ɓ)      Các điều khoản của một hiệp định như
vậy nhìn chung sẽ không áp đặt với một bên ký kết những nghĩa vụ hạn chế hơn
các nghĩa vụ của các thành viên Quỹ Tiền Tệ Quốc tế (IMF) theo điều lệ của Quỹ.

 

8.        
Mỗi bên ký kết không phải là thành viên của Quỹ Tiền Tệ Quốc tế (IMF) sẽ phân phối
cho Các Bên Ký Kết mọi thông tin mà Các Bên có thể yêu cầu trong khuôn khổ
chung của mục 5 điều VIII điều lệ Quỹ, nhằm thực hiện các tính năng của mình
nêu tại Hiệp định này.

 

9.        
Không một quy định nào của Hiệp định này nhằm ngăn cấm:

 

α)       một bên ký kết ứng dụng các biện
pháp kiểm tra hay hạn chế về ngoại hối phù phù hợp với Điều lệ của Quỹ Tiền Tệ Quốc
tế (IMF) hoặc hiệp định đặc biệt ký kết giữa bên ký kết đó với Các Bên Ký Kết;

 

ɓ)      cũng như việc một bên ký kết ứng dụng
các hạn chế hay kiểm tra với xuất khẩu hay nhập khẩu, ngoài các thúc đẩy được
phép nêu tại điều XI, XII, XIII và XV, chỉ có tác dụng đảm bảo thực thi việc kiểm
soát hay hạn chế có tính chất như vậy.

 

Điều
XVI

Điểm 𝓐 – Trợ cấp nói
chung

 

1.        
Nếu bất kỳ bên ký kết nào hiện dành hay duy trì trợ cấp, bao gồm mọi hình thức hỗ
trợ thu nhập hay trợ giá, trực tiếp hoặc gián tiếp có thúc đẩy làm tăng xuất khẩu
một sản phẩm từ lãnh thổ của bên ký kết đó hay làm giảm nhập khẩu vào lãnh thổ
của mình, bên ký kết đó sẽ thông báo bằng văn bản cho Các Bên Ký Kết về mức độ,
tính chất của việc trợ cấp đó, các thúc đẩy để có nền tảng nhận xét số lượng của sản
phẩm hay các sản phẩm xuất khẩu hay nhập khẩu chịu thúc đẩy của trợ cấp đó và
nhận xét hoàn cảnh dẫn theo nhu cầu cần phải trợ cấp. Trong mọi trường hợp, khi
xác nhận được việc trợ cấp đó gây ra hay đe doạ gây ra tổn hại nghiêm trọng đến
lợi nhuận của một bên ký kết khác, khi được yêu cầu, bên ký kết đang ứng dụng trợ
cấp sẽ cùng bên ký kết kia hoặc các bên ký kết có liên quan hoặc Các Bên Ký Kết
thảo luận khả năng hạn chế trợ cấp.

 

Mục Ɓ – Các quy định
bổ sung về trợ cấp xuất khẩu.

 

2.        
Các Bên Ký Kết thừa nhận rằng việc một bên ký kết có trợ cấp cho xuất khẩu một
sản phẩm có thể dẫn tới hậu quả gây thiệt hại cho các bên ký kết khác, dù là với
nước nhập khẩu hay xuất khẩu; và rằng việc đó có thể quấy rối loạn không thuận tới
quyền lợi thương mại thông thường và gây trở ngại cho việc thực hiện các mục
tiêu được đề ra trong Hiệp định này.

 

3.        
Do vậy, các bên ký kết phải nỗ lực tránh sử dụng trợ cấp xuất khẩu so với các
sản phẩm sơ cấp. Tuy nhiên, nếu một bên ký kết cho hưởng trợ cấp trực tiếp hay
gián tiếp dưới một hình thức nào đó, có tác dụng tăng xuất khẩu một sản phẩm sơ
cấp từ lãnh thổ của mình, trợ cấp đó cũng không được ứng dụng để dẫn tới việc
tăng thị phần của bên ứng dụng trợ cấp lên trên mức hợp lý của tổng xuất khẩu sản
phẩm đó trong thương mại quốc tế, có tính đến thị phần đã có của bên ký kết đó
trong một thời kỳ có tính đại diện trước đó cũng như mọi nhân tố đặc biệt có thể
thúc đẩy đến thương mại sản phẩm đó.*

 

4.        
Ngoài ra, kể từ năm ngày 1 tháng 1 năm 1958 hay vào thời hạn sớm nhất sau ngày
đó, các bên ký kết sẽ ngừng việc trợ cấp trực tiếp hay gián tiếp cho xuất khẩu
dưới bất kỳ hình thức nào cho bất kỳmột sản phẩm nào có tác dụng giảm giá thành
xuất khẩu sản phẩm này xuống dưới mức giá thành sản phẩm tương tự cho người mua
trên thị trường  trong nước. Từ nay tới ngày 31 tháng 12 năm 1957, không một
bên ký kết nào mở rộng diện thực thi trợ cấp như trên quá mức đã ứng dụng vào
ngày 1 tháng 1 năm 1955, bằng cách ứng dụng trợ cấp mới hay mở rộng diện trợ cấp
hiện hành.

 

5.        
Các Bên Ký Kết sẽ định kỳ tiến hành xem xét tổng thể việc thực thi các quy định
của điều khoản này nhằm xác nhận, rút kinh nghiệm, xem các quy định đó có thực
sự đóng góp hữu hiệu cho việc thực hiện mục tiêu của Hiệp định này và có cho
phép thực sự tránh được việc trợ cấp gây tổn hại nghiêm trọng tới thương mại
hay tới quyền lợi của các bên ký kết.

 

Điều
XVII

 

1.*     
α)       Mỗi bên ký kết cam kết rằng khi lập ra một
doanh nghiệp thương mại nhà nước, khi phân bổ hoặc giành cho một doanh nghiệp độc
quyền hay đặc quyền thương mại* theo pháp luật hay trong thực tiễn, doanh nghiệp
đó khi tiến hành mua bán thông qua xuất khẩu hay nhập khẩu sẽ tuân thủ các
phép tắc chung về không phân biệt đối xử đã nêu trong Hiệp định này so với
các biện pháp của chính phủ thúc đẩy tới hoạt động nhập khẩu hay xuất khẩu của
các doanh nghiệp tư nhân.

 

ɓ)      Các quy định của điểm α) thuộc khoản này
phải được hiểu là đòi hỏi các doanh nghiệp nói trên nhìn nhận đúng mức các quy
định khác của Hiệp định này và khi tiến hành mua bán như vậy chỉ xem xét quyết
định chỉ căn cứ vào các tiêu chuẩn thương mại* như giá thành, chất lượng, khả năng sẵn
có, khả năng phân phối, vận tải và các điều kiện mua bán khác, cũng như được hiểu
là phải giành cho các doanh nghiệp của các bên ký kết khác khả năng thích hợp
tham gia vào hoạt động mua bán này trong các điều kiện tự do đối đầu và phù
phù hợp với tập quán thương mại thông thường.

 

¢)       Không một bên ký kết nào ngăn
cản các doanh nghiệp (dù là doanh nghiệp được đề cập ở điểm α) khoản này hay
không chịu sự điều chỉnh của pháp luật nước mình) hành động phù phù hợp với các
phép tắc đã nêu tại điểm α) và điểm ɓ) của khoản này.

 

2.        
Các quy định của khoản 1 điều khoản này không ứng dụng với việc nhập khẩu sản phẩm
giành cho tiêu dùng ngay hay cuối cùng được tiêu dùng bởi các đơn vị chính quyền
hay do chính quyền thanh toán mà không được bán lại hoặc được dùng để sản xuất
hàng hoá* nhằm mục đích bán lại. Với các hoạt động thương mại này mỗi bên ký kết
sẽ dành sự đãi ngộ công bình với các bên ký kết khác.

 

3.        
Các bên ký kết thừa nhận rằng các doanh nghiệp thuộc loại được khái niệm tại
điểm α) của khoản 1 điều khoản này có thể được sử dụng theo cách có thể dẫn tới
gây trở ngại nghiêm trọng cho thương mại, do vậy để đảm bảo cho sự phát triển của
thương mại quốc tế, vấn đề trọng yếu là tiến hành thương thảo trên nền tảng có đi có
lại và các bên cùng có lợi, nhằm hạn chế hay giảm bớt các trở ngại đó.*

 

4.       
α)       Các bên ký kết sẽ thông báo cho Các Bên
Ký Kết các sản phẩm được nhập khẩu hoặc xuất khẩu từ lãnh thổ của mình do các
doanh nghiệp thuộc loại đã khái niệm tại tiểu mục 1 của điều khoản này tiến
hành.

 

ɓ)      Bên ký kết đưa ra hay cho phép một sự
độc quyền nhập khẩu một sản phẩm không thuộc diện nhân nhượng (thuế quan) theo
nội dung điều khoản II, khi có yêu cẩu của một bên ký kết đang mua/bán ở mức 
đáng kể sản phẩm này, sẽ thông báo cho Các Bên Ký Kết biết chênh lệch giá nhập
khẩu của sản phẩm đó trong một thời kỳ đại diện gần nhất và hoặc, khi có thể,
cho biết giá thành ra của sản phẩm đó.

 

¢)       Khi một bên ký kết có yêu cầu và có
nguyên nhân để tin rằng quyền lợi của mình trong khuôn khổ Hiệp định này đang bị tổn
hại do hoạt động của các doanh nghiệp thuộc loại đã khái niệm tại điểm α) của
khoản 1, Các Bên Ký Kết có thể yêu cầu bên ký kết đang lập ra, duy trì hay cho
phép một doanh nghiệp như vậy phân phối các thông tin về hoạt động của doanh
nghiệp đó liên quan tới việc tuân thủ các phép tắc của Hiệp định này.

 

{d})      Các quy định của khoản này không buộc các
bên ký kết phải điểm lộ các thông tin không thông dụng mà nếu được điểm lộ sẽ gây
khó khăn cho việc thực thi pháp luật hay làm tổn hại đến quyền lợi thương mại
chính đáng của những doanh nghiệp nhất định.

 

Điều
XVIII
*

 

 

1.        
Các bên ký kết thừa nhận rằng các mục tiêu của Hiệp định này sẽ được thực
hiện thuận tiện hơn nhờ vào sự phát triển dần nền kinh tế của mỗi nước, nhất là
trong trường hợp các bên ký kết đang có một nền kinh tế chỉ đủ khả năng đảm bảo
một mức sống thấp và đang trong thời kỳ đầu của quá trình phát triển.*

 

2.        
Ngoài ra, các bên ký kết cũng thừa nhận rằng với các bên ký kết đã đề cập đến ở
khoản 1 có thể cần thực hiện các chương trình và quyết sách phát triển kinh tế
hướng tới việc nâng cao mức sống chung của nhân dân, cần phải có các biện pháp bảo lãnh
hay các biện pháp thúc đẩy đến nhập khẩu và chừng nào việc thực hiện các mục
tiêu được nêu trong Hiệp định này nhờ đó có thêm thuận tiện thì việc ứng dụng các
biện pháp như vậy đang là đúng đắn. Các Bên cho rằng cần dự kiến trước những điều
kiện thuận tiện cho các bên ký kết nói trên để họ (1) có thể duy trì cơ cấu thuế
quan có sự mềm dẻo đủ để có một sự bảo lãnh thông qua thuế quan thiết yếu cho việc
tạo dựng một nghề sản xuất nhất định* và kiến lập các hạn chế số lượng nhằm bảo
hộ cho cán cân thanh toán theo phương pháp để có tính toán đầy đủ đến mức nhu cầu nhập
khẩu cao và ngày càng tăng có thể phát sinh  do việc thực hiện các chương
trình phát triển kinh tế.

 

3.        
Các bên ký kết thừa nhận sau cùng rằng, với các thuận tiện bổ sung có được như
nêu taị mục 𝓐 và Ɓ của điều khoản này, thông thường các quy định của Hiệp định
này sẽ đủ điều kiện để các bên ký kết thỏa mãn các nhu cầu phát triển kinh tế của
mình. Tuy nhiên Các Bên cũng thừa nhận rằng trong thực tiễn cũng có những trường
hợp không thể đưa ra các biện pháp tương thích với các quy định này, là biện
pháp cho một bên ký kết đang phát triển kinh tế dành sự trợ giúp của Nhà nước cần
có để tạo thuận tiện để tạo lập những nghề sản xuất xác nhận có tác dụng nâng
cao mức sống chung của nhân dân. Tại điểm ₵ và 𝓓 có quy định thủ tục giành cho
các trường hợp như vậy.

 

4.        α)
      Do vậy toàn bộ các bên ký kết có nền kinh tế chỉ
đảm bảo được một mức sống thấp cho nhân dân* và đang ở chặng đầu của sự phát
triển * có thể tạm thời làm trái với các quy định của các điêù khoản khác thuộc
Hiệp định này, nội dung đã dự kiến tại các mục 𝓐, Ɓ, ₵ của điều khoản này nhằm
mục đích đó.

 

ɓ)      Mỗi bên ký kết có nền kinh tế đang
phát triển nhưng không thuộc tiểu khoản α) nêu trên có thể đề xuất Các Bên Ký Kết
cho phép ứng dụng theo quy định của điểm 𝓓 tại điều khoản này.

 

5.        
Các bên ký kết thừa nhận rằng thu nhập từ xuất khẩu của các bên ký kết có nền
kinh tế thuộc diện đã được mô tả ở điểm α) và ɓ) của khoản 4 và thu nhập đó phụ
thuộc vào một số ít các sản phẩm sơ cấp có thể bị giảm nguồn thu nghiêm trọng
do suy giảm xuất khẩu các sản phẩm đó. Do vậy, khi xuất khẩu các sản phẩm sơ cấp
của bên ký kết đó bị tác động nghiêm trọng bởi các biện pháp được một bên ký kết
khác ứng dụng, bên ký kết đó có thể vận dụng các quy định của điều XXII thuộc Hiệp
định này để tham vấn.

 

6.        
Các Bên Ký Kết hàng năm sẽ xem xét lại toàn bộ các biện pháp được ứng dụng theo
trí não các quy định của mục ₵ và 𝓓 của điều khoản này.

 

Mục  𝓐

 

7         
α)         Nếu một bên ký kết thuộc diện
nêu tại điểm α của khoản 4 điều khoản này thấy cần điều chỉnh hay rút bỏ các nhân
nhượng thuế quan trong Biểu các nhân nhượng thuế quan thuộc phụ lục của Hiệp định
này để tạo thuận tiện cho việc tạo dựng một nghề sản xuất xác nhận và nâng cao
mức sống chung của nhân dân, bên ký kết đó sẽ thông báo cho Các Bên Ký Kết biết
và tiến hành thương thảo với bất kỳ bên ký kết nào ban đầu đã thương thảo với mình về
nhân nhượng thuế quan đó và với toàn bộ các bên ký kết được Các Bên Ký Kết thừa
nhận là có quyền lợi đáng kể liên quan. Nếu đạt được một thoả thuận giữa các
bên ký kết liên quan, việc điều chỉnh và rút bỏ nhân nhượng thuế quan trong Biểu
các nhân nhượng thuế quan (tương ứng trong phụ lục của Hiệp định này) không có
trở ngại gì, nhằm thực hiện thoả thuận nói trên, kể cả những điều chỉnh để bù đắp
có phát sinh.

 

           
ɓ)         Nếu các bên không đạt được
thoả thuận trong vòng sáu mươi ngày tính từ ngày gửi thông báo như nêu tại điểm
α) trên đây, bên ký kết mang ra đề xuất có thể mang vấn đề ra trước Các Bên Ký Kết
và Các Bên sẽ xem xét nhanh chóng. Nếu Các Bên Ký Kết thấy rằng bên ký kết có đề
nghị điều chỉnh hay rút bỏ nhân nhượng đã làm hết khả năng để đạt tới một thoả
thuận và sự đền bù đã  mang ra là thoả đáng, bên ký kết đó được quyền điều
chỉnh hay rút bỏ nhân nhượng, với điều kiện phải đồng thời thực thi sự đền bù.
Nếu Các Bên Ký Kết thấy rằng sự đền bù được bên ký kết có đề xuất điều chỉnh
hay rút bỏ nhân nhượng mang là không thoả đáng, nhưng bên ký kết đó đã làm hết
những gì hợp lý thuộc khả năng của mình để có được một sự đền bù thoả đáng, bên
ký kết đó có thể thực thi sự điều chỉnh hay rút bỏ đó. Khi một biện pháp như vậy
đã được ứng dụng, mọi bên ký kết khác nói ở điểm α) trên đây có thể điều chỉnh
hay rút bỏ những nhân nhượng đáng kể tương ứng đã thương thảo ban đầu với bên ký kết
đã ứng dụng các biện pháp nói trên*.

 

Mục  Ɓ

 

8.        
Các bên ký kết thừa nhận rằng những bên ký kết thuộc diện nêu tại tiểu khoản α)
khoản 4 điều khoản này khi đang trong giai khoản phát triển nhanh để thăng bằng
cán cân thanh toán có thể gặp khó khăn đa phần bắt nguồn từ các nỗ lực mở rộng
thị trường trong nước cũng như có sự không ổn định về ngoại hối.

 

9.        
Đề bảo vệ vị trí tài chính đối ngoại và đảm bảo đủ mức dự trữ ngoại hối nhằm thực
hiện các chương trình phát triển kinh tế, một bên ký kết thuộc diện nêu tại điểm
α) của khoản 4. điều khoản này có thể, với điều kiện thỏa mãn các quy định của
khoản 10 và 12, điều chỉnh tổng mức nhập khẩu bằng cách hạn chế khối lượng và
trị giá của hàng hoá được phép nhập khẩu, với điều kiện là các hạn chế nhập khẩu
đưa ra hay duy trì không quá mức thiết yếu.

 

α)    để ứng phó với sự suy giảm đáng kể dự trữ tiền tệ hay
chấm hết tình trạng này; hoặc

ɓ)    để nâng mức dự trữ tiền tệ với vận tốc hợp lý, trong
trường hợp dự trữ đó đang ở mức thiếu hụt.

 

Trong cả hai trường
hợp, cần phải tính đến mọi nhân tố đặc biệt có thể thúc đẩy đến dự trữ tiền tệ
của bên ký kết đó hay nhu câù của bên ký kết đó về dự trữ tiền tệ và nhất là
khi đang được sử dụng các khoản tín dụng đặc biệt hay nguồn khác, cần tính đến
khả năng sử dụng thích hợp các khoản tín dụng và các nguồn như vậy.

 

10.      
Khi ứng dụng các hạn chế đó, bên ký kết nói trên có thể xác nhận thúc đẩy của
các biện pháp đó lên các sản phẩm khác nhau hay các mẫu mã sản phẩm khác
nhau sao cho có sự ưu tiên với nhập khẩu các sản phẩm thiết yếu để thực thi
quyết sách phát triển kinh tế của mình; tuy nhiên các hạn chế phải được ứng dụng
sao cho tránh không làm tổn hại quyền lợi kinh tế thương mại của bất kỳ bên ký
kết nào khác một cách không thiết yếu và không gây trở ngại cho việc nhập khẩu
những khối lượng hàng hoá có tính chất thương mại tối thiểu thuộc bất kể loại
nào mà nếu ngừng nhập khẩu hoàn toàn sẽ dẫn theo trở ngại cho tiến trình thương
mại thông thường; ngoài ra, các hạn chế nói trên sẽ không được ứng dụng dẫn theo
gây trở ngại cho việc nhập khẩu mẫu hàng trong thương mại hay hay với việc tuân
thủ các thủ tục liên quan tới bản quyền sáng chế, nhãn hàng, quyền tác giả hay
các thủ tục tương tự.

 

11.      
Khi thực hiện quyết sách trong nước của mình, bên ký kết liên quan cũng phải
tính toán đúng mức đến sự thiết yếu phải lập lại thăng bằng cán cân thanh toán
dựa trên một nền tảng lành mạnh vững bền và lưu tâm sử dụng một cách kinh tế các
nguồn lực sản xuất. Khi tình trạng trên dần dần được cải tổ, bên ký kết đó sẽ
giảm nhẹ dần các hạn chế được ứng dụng theo trí não của mục này và chỉ duy trì
chúng ở mức thiết yếu, có tính toán đến các quy định của khoản 9 điều khoản
này; bên ký kết đó sẽ loại bỏ các hạn chế khi tình huống đó không chứng tỏ sự cần
thiết phải duy trì các biện pháp đó nữa; Tuy nhiên không một bên ký kết nào phải
huỷ bỏ hay điều chỉnh các hạn chế với nguyên nhân là sự thay đổi trong quyết sách
phát triển của mình đã làm mất tính thiết yếu của các hạn chế đang ứng dụng theo
trí não của điểm  này*.

 

12.      
α)         Bất kỳ bên ký kết nào đang ứng dụng
các hạn chế mới hay nâng mức chung hạn chế so với trươc đó thông qua tăng cường
đáng kể các biện pháp đã ứng dụng theo trí não của điểm này, ngay sau khoảng thời gian đã
mang ra các hạn chế mới hay tăng cường biện pháp hạn chế, hoặc trong trường hợp
có thể tham vấn trước khi tiến hành  sẽ phải khởi đầu tham vấn với Các Bên
Ký Kết về tính chất các khó khăn đang thúc đẩy lên cán cân thanh toán và các biện
pháp điều chỉnh khác nhau dẫn theo lựa chọn các biện pháp đang ứng dụng cũng như
các thúc đẩy có thể của các biện pháp đó với nền kinh tế của các bên ký kết
khác.

 

           
ɓ)         Vào một ngày do Các Bên xác
định sau, Các Bên Ký Kết sẽ xem xét lại mọi hạn chế còn đang được ứng dụng vào
ngày đó. Khi hết thời hạn hai năm kể từ ngày nói trên, các bên ký kết vẫn đang
ứng dụng các hạn chế theo trí não của điểm  này sẽ tiến hành tham vấn với
Các Bên Ký Kết định kỳ khoảng nhưng không ngắn hơn hai năm theo phương thức đã
nêu tại điểm ¢) trên đây, theo chương trình sẽ do Các Bên Ký Kết xác nhận hàng
năm; Tuy nhiên trong thời hạn hai năm kể từ khi kết thúc tham vấn mang tính tổng
thể theo bất kỳ một quy định nào khác thuộc khoản này, không tiến hành một cuộc
tham vấn nào sớm hơn.

 

 

           
¢)        
(ι)         Nếu trong lúc tiến hành tham
vấn với một bên ký kết đúng theo quy định của điểm α) và điểm ɓ) thuộc khoản
này, Các Bên Ký Kết thấy rằng các hạn chế không tương thích với các quy định tại
điểm này hay không phù phù hợp với các quy định của điều XIII (với các điều kiện
quy định tại điều XIV), Các Bên sẽ nêu ra những điểm còn khác biệt và có thể đề
xuất những điều chỉnh thích phù hợp với những hạn chế đang được ứng dụng.

 

                       
(ii)        Tuy nhiên, nếu sau khoảng thời gian đã tham vấn,
Các Bên Ký Kết xác nhận rằng các hạn chế đang được ứng dụng theo cách không phù
phù hợp với các quy định của điểm này và các quy định tại Điều khoản XIII (với các
điều kiện quy định tại điều XIV) ở mức nghiêm trọng và do vậy dẫn tới tổn hại
hay đe doạ tổn hại tới thương mại của một bên ký kết, Các Bên sẽ thông báo cho
bên ký kết đang ứng dụng hạn chế và có khuyến nghị thích hợp nhằm đảm bảo việc
tuân thủ các quy định liên quan trong một thời hạn hợp lý. Nếu bên ký kết đó
không tuân thủ các khuyến nghị nói trên trong thời hạn đã định, Các Bên Ký Kết
có thể cho phép bên ký kết có nền thương mại bị thúc đẩy bởi các hạn chế đó khỏi
bị ràng buộc với mọi nghĩa vụ được tự xác nhận là thích hợp, so với bên ký kết
đang ứng dụng hạn chế có tính đến tình huống rõ ràng.

 

           
{d})         Các Bên Ký Kết sẽ mời mọi
bên ký kết hiện đang ứng dụng hạn chế theo trí não của mục này tiến hành tham
vấn với Các Bên khi bất kỳ một bên ký kết nào đã xác nhận rằng các hạn chế
không tương thích với các quy định của mục này và các quy định tại Điều XIII (với
các điều kiện quy định tại Điều XIV) và nền thương mại của mình có bị tổn hại.
Tuy nhiên việc mời tham vấn chỉ tiến hành sau khoảng thời gian Các Bên Ký Kết nhận thấy rằng
các cuộc thương thảo trực tiếp giữa các bên ký kết liên quan đã không đạt thành tích.
Nếu sau khoảng thời gian đã tham vấn với Các Bên Ký Kết nhưng vẫn không đạt được thoả thuận,
và một khi Các Bên Ký Kết xác nhận được rằng việc ứng dụng hạn chế không thích hợp
các quy định nêu trên và dẫn theo tổn hại hay đe doạ tổn hại cho thương mại của
bên ký kết đã tiến hành thủ tục tham vấn, Các Bên sẽ khuyến nghị huỷ bỏ hay điều
chỉnh các hạn chế. Nếu các hạn chế không được huỷ bỏ hay điều chỉnh trong thời
hạn được Các Bên Ký Kết có thể xác nhận xác nhận, Các Bên có thể cho phép bên
ký kết đã tiền hành thủ tục tham vấn khỏi bị ràng buộc với mọi nghĩa vụ được tự
xác nhận là thích hợp, so với bên ký kết đang ứng dụng các hạn chế có tính đến
tình huống rõ ràng.

 

           
e)         Nếu một bên ký kết thấy một
biện pháp đã được ứng dụng với mình phù phù hợp với câu cuối cùng của điểm ¢) ii và
điểm {d}) của khoản này, thắy rằng việc Các Bên Ký Kết miễn trách nghĩa vụ cho một
bên ký kết như vậy làm hại tới việc thực hiện chương trình và quyết sách phát
triển kinh tế của mình, trong vong 60 ngày từ ngày biện pháp nói trên được ứng dụng,
bên ký kết đó có quyền thông báo bằng văn bản cho Thư ký điều hành* của Các Bên
Ký Kết biết ý định từ bỏ tham gia Hiệp định này. Sự từ bỏ đó có hiệu lực trong
vòng 60 ngày kể từ ngày Thư ký điều hành thu được thông báo nói trên.

 

           
ƒ)          Trong mọi tiến trình
thực hiện đúng theo điều khoản này, Các Bên Ký Kết sẽ tính một cách hợp thức đến
các nhân tố đã nêu tại khoản 2 của điều khoản này. Những xác nhận đã đề cập tại
khoản này cần được tiến hành nhanh chóng và nếu có thể, trong thời hạn 60 ngày
kể từ ngày khởi đầu tham vấn.

 

 

Mục ₵

 

13.      
Nếu một bên ký kết thuộc diện nêu tại  điểm 4 α) của điều khoản này thấy rằng
Nhà nước cần phải có sự trợ giúp tạo thuận tiện cho việc tạo dựng một nghề sản xuất
nhất định* có tác dụng nâng cao mức sống chung của nhân dân, nhưng lại không thể
vận dụng được các biện pháp thich phù hợp với các quy định của Hiệp định này, bên
ký kết đó có quyền vận dụng các quy định và thủ tục của điểm này*.

 

14.      
Bên ký kết đó thông báo cho Các Bên Ký Kết biết những khó khăn đặc biệt gặp phải
khi thực hiện mục tiêu nêu tại khoản 13 của điều khoản này và nêu rõ biện pháp
thúc đẩy tới nhập khẩu mà mình định ứng dụng để khắc phục được các khó khăn nêu
trên. Bên ký kết đó sẽ không mang vào ứng dụng biện pháp đó trước khi hết thời hạn
như nêu tại khoản 15 hoặc khoản 17, tuỳ theo từng trường hợp, hoặc nếu biện
pháp đó ánh hưởng đến nhập khẩu một sản phẩm đã mang vào Biểu nhân nhượng thuế
quan tương ứng thuộc phụ lục của Hiệp định này, trừ khi được Các Bên Ký Kết chấp
thuận phù phù hợp với các quy định của khoản 18; tuy nhiên, nếu nghề sản xuất nhận
sự giúp dỡ của Nhà nước đã đi vào hoạt động, sau khoảng thời gian đã thông báo cho Các Bên
Ký Kết biết, bên ký kết đó có thể có các biện pháp thiết yếu để tránh nhập khẩu
(các) sản phẩm liên quan không vượt quá mức bình thường*, trong thời gian đó.

 

15.      
Nếu trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày thông báo về biện pháp nói trên, Các Bên
Ký Kết không mời bên ký kết đó tham vấn với Các Bên*, bên ký kết đó có thể làm
trái với các quy định của Hiệp định này, ứng dụng với vấn đề rõ ràng này, và ứng dụng
biện pháp đã dự kiến trong chừng mực thiết yếu.

 

16.      
Nếu Các Bên Ký Kết*có yêu cầu tham vấn, bên ký kết đó sẽ tham vấn với Các Bên về
đối tượng của biện pháp đã dự kiến, về các biện pháp khác nhau có thể lựa chọn
trong khuôn khổ của Hiệp định này, cũng như các thúc đẩy có thể có của biện
pháp đã dự kiến với quyền lợi thương mại hay quyền lợi kinh tế của các bên ký kết
khác. Nếu sau khoảng thời gian đã tham vấn, Các Bên Ký Kết nhận thấy rằng trong thực tiễn
không thể mang ra biện pháp tương thich với các quy định khác của Hiệp định này
để thực hiện mục tiêu đã xác nhận tại khoản 13 điều khoản này và nếu được Các
Bên chấp thuận* biện pháp đã dự kiến, bên ký kết đó được miễn các nghĩa vụ thuộc
các Điều khoản khác của Hiệp định này ứng dụng với vấn đề rõ ràng này trong chừng
mực thiết yếu để thực thi biện pháp đó.

 

17.      
Nếu trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày gửi thông báo về biện pháp đã đự kiến,
phù phù hợp với các quy định của khoản 14 điều khoản này, Các Bên Ký Kết không bày
tỏ ý kiến với biện pháp đã dự kiến, bên ký kết liên quan có thể ứng dụng biện
pháp đó sau khoảng thời gian đã thông báo cho Các Bên Ký Kết biết.

 

18.      
Nếu biện pháp dự kiến đó tác động đến một sản phẩm thuộc Biểu cam kết tương ứng
trong phụ lục của Hiệp định này, bên ký kết liên quan sẽ tiến hành tham vấn với
bất kỳ bên ký kết nào khác đã tham gia thương thảo về nhân nhượng đó và bất kỳ bên
ký kết nào khác có quyền lợi đáng kể liên quan tới nhân nhượng thuế quan đó được
Các Bên Ký Kết thừa nhận. Các Bên sẽ trổ tài sự tán thành* với biện pháp dự kiến
nếu họ thừa nhận rằng trong thực tiễn không thể ứng dụng những biện pháp tương
thích với các quy định của Hiệp định này để thực hiện các mục tiêu đã xác nhận
tại khoản 13 của điều khoản này và nếu Các Bên có sự đảm nói rằng:

           

(α)   đã đoạt được một thoả thuận với các bên ký kết liên
quan sau khoảng thời gian tham vấn như đã nêu trên,

 

(ɓ)   hoặc nếu không đạt được thoả thuận nào trong thời hạn
60 ngày kể từ ngày Các Bên Ký Kết thu được thông báo như quy định tại khoản 14,
bên ký kết vận dụng các quy định của điều khoản này đã làm toàn bộ những gì hợp
lý, có thể làm được để đạt tới một thoả thuận như vậy và quyền lợi của các bên
ký kết khác đã được bảo vệ đúng mức*.

 

Bên ký kết vận dụng các quy định
của mục này đến lúc đó được miễn các nghĩa vụ theo các quy định của các điều
khoản khác của Hiệp định này ứng dụng với nội dung của vấn đề rõ ràng nói đến ở
đây, trong chừng mực thiết yếu để tiến hành biện pháp đã nêu.

 

19       
Nếu một biện pháp đã dự kiến thuộc loại đã khái niệm ở khoản 13 của điều khoản
này liên quan tới một nghề sản xuất trong thời kỳ đầu đã được tạo điều kiện
thuận tiện nhờ vào sự bảo lãnh phụ trợ có được do các hạn chế được bên ký kết đó
ứng dụng nhằm bảo lãnh sự thăng bằng cán cân thanh toán theo quy định của Hiệp định
này ứng dụng vào vấn đề rõ ràng liên quan, bên ký kết đó có thể vận dụng các quy
định và thủ tục của mục này, với điều kiện bên đó không ứng dụng các biện pháp dự
kiến khi chưa được các bên ký kết* tán thành*.

 

20.      
Không một quy định nào của các khoản trước thuộc mục này cho phép làm trái các
quy định của các Điều thứ nhất, II, XIII của Hiệp định này. Các bảo lưu của khoản
10 của điều khoản này có hiệu lực với mọi hạn chế là đối tượng điều chỉnh của
điểm này.

 

21.      
Trong thời kỳ một biện pháp được ứng dụng theo quy định của khoản 17 điều khoản
này, vào bất kỳ lúc nào, bất kỳ bên ký kết nào chịu  thúc đẩy đáng kể của
biện pháp đó cũng có thể tạm ngừng việc cho bên ký kết đã vận dụng các quy định
của mục này hưởng những nhân nhượng hay được miễn những nghĩa vụ đáng kể tương
đương trong phạm vi Hiệp định này và không bị Các Bên Ký Kết  có ý kiến
trái lại, với điều kiện có sự báo trước giành cho Các Bên Ký Kết một thời hạn
60 ngày, không chậm hơn sáu tháng kể từ ngày biện pháp được ứng dụng hay điều chỉnh
nhằm vào bên ký kết chịu tổn hại đó. Bên ký kết này sẽ tạo điều kiện để tham vấn
phù phù hợp với các quy định của điều XXII của Hiệp định này.

 

Mục 𝓓

 

22.      
Bất kỳ bên ký kết nào thuộc diện nêu tại điểm 4 ɓ) điều khản này và để tạo thuận
lợi cho sự phát triển kinh tế của mình muốn kiến lập một biện pháp thuộc
loại nêu tại khoản 13 điều khoản này về việc tạo lập một nghề sản xuất nhất định,
có quyền đề xuất Các Bên Ký Kết thông qua một biện pháp như vậy. Các Bên Ký Kết
sẽ nhanh chóng tham vấn với bên ký kết đó và trong quá trình ra quyết định họ sẽ
căn cứ vào nội dung đã quy định tại khoản 16. Nếu được Các Bên Ký Kết* đồng
tình với biện pháp nêu trên, bên ký kết đó sẽ được miễn các nghĩa vụ nêu tại
các Điều khoản khác của Hiệp định này, trong chừng mực thiết yếu để tiến hành
biện pháp đã nêu. Nếu biện pháp dự kiến thúc đẩy đến một sản phẩm là đói tượng
của nhân nhượng thuế quan trong Biểu tương ứng kèm theo phụ lục của Hiệp định
này, các quy định của khoản 18 sẽ có hiệu lực.*

 

23.      
Mọi biện pháp ứng dụng theo trí não của mục này phải phù phù hợp với các quy 
định của khoản 20 điều khoản này.

 

Điều
XIX

 

 

1.        
α)         Nếu do hậu quả của những diễn
tiến không lường trước đượcvà do kết quả của những nghĩa vụ, trong đó
có những nhân nhượng thuế quan của một bên ký kết theo Hiệp định này, một sản
phẩm được nhập khẩu vào lãnh thổ của bên ký kết đó với số lượng tăng trưởng và với
các điều kiện đến mức gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại nghiêm trọng cho
các nhà sản xuất những sản phẩm tương tự hay sản phẩm đối đầu trực tiếp
trong nước, bên ký kết đó có quyền ngừng hoàn toàn hay một phần các cam kết của
mình, rút bỏ hay điều chỉnh nhân nhượng thuế quan, so với sản phẩm đó và trong
thời gian thiết yếu để ngăn chặn hoặc khắc phục tổn hại đó.

 

           
ɓ)         Nếu một bên ký kết đã chấp
nhận một sự nhân nhượng liên quan tới một sự ưu đãi và sản phẩm là đối tượng ưu
đãi được nhập khẩu vào lãnh thổ của bên ký kết có tình huống như nêu tại điểm
α) của khoản này tới mức mà nhập khẩu đó đã gây tổn hại hoặc đe doạ gây tổn hại
nghiêm trọng cho các nhà sản xuất những sản phẩm tương tự hay trực tiếp cạnh
tranh là các nhà sản xuất trên lãnh thổ của bên ký kết đang được hưởng hay đã
được hưởng sự ưu dãi đó, bên ký kết này có thể đề xuất bên ký kết đang nhập khẩu
và bên ký kết đang nhập khẩu có quyền tạm ngừng hoàn toàn hay một phần các cam
kết của mình, rút bỏ hay điều chỉnh nhân nhượng thuế quan so với sản phẩm đó
và trong thời gian thiết yếu để ngăn ngừa và khắc phục tổn hại đó.

 

2.        
Trước khi một bên ký kết ứng dụng những biện pháp phù phù hợp với các quy định của
khoản đầu điều khoản này, bên đó sẽ thông báo trước bằng văn bản sớm nhất có thể
cho Các Bên Ký Kết biết. Bên ký kết đó sẽ giành cho Các Bên Ký Kết cũng như các
bên ký kết khác với tư cách là nước xuất khẩu các sản phẩm nói trên thời dịp cùng
xem xét các biện pháp được dự kiến ứng dụng. Nếu thông báo về một nhân nhượng
liên quan tới một ưu đãi, trong thông báo sẽ nêu rõ tên bên ký kết đã đề xuất
ứng dụng biện pháp đó. Trong các hoàn cảnh khó khăn mà mọi sự chậm trễ sẽ dẫn theo
những hậu quả khó có thể khắc phục được, các biện pháp đã dự kiến tại khoản đầu
tiên của điều khoản này có thể được tạm thời ứng dụng mà không cần tham vấn trước,
với điều kiện là tham vấn được tiến hành ngay sau khoảng thời gian các biện pháp được ứng dụng.

 

3.        
α)         Nếu các bên ký kết liên quan
không đi đến nhất trí, bên ký kết đề xuất ứng dụng và duy trì biện pháp đó có quyền
tiếp tục hành động. Nếu hành động đó được ứng dụng hay tiếp tục được ứng dụng,
trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày các biện pháp được ứng dụng và sau 30 ngày kể
từ khi Các Bên Ký Kết thu được thông báo trước bằng văn bản,  các bên ký
kết chịu thúc đẩy của các biện pháp đó có quyền ngừng không cho thương mại của
bên ký kết đang ứng dụng các biện pháp đó hoặc trong trường hợp đã dự liệu tại
điểm ɓ) của khoản trước hết điều khoản này không cho thương mại của bên ký kết
đã yêu cầu ứng dụng các biện pháp đó hưởng các nhân nhượng hay ngừng các nghĩa vụ
tương ứng đáng kể khác thuộc Hiệp định này và việc ngừng đó sẽ không bị Các Bên
Ký Kết phản đối.

 

           
ɓ)         Không làm tổn hại đến các quy định
của điểm α) thuộc khoản này, nếu các biện pháp đã ứng dụng theo trí não khoản
2 điều khoản này, không có tham vấn trước, gây thiệt hại hay đe doạ gây thiệt hại
nghiêm trọng cho các nhà sản xuất trong nước, trên lãnh thổ của một bên ký kết
khác chịu thúc đẩy của các biện pháp đó, khi mỗi sự chậm trễ có thể gây ra những
thiệt hại khó có thể khắc phục được, bên ký kết này có quyền ngừng cho hưởng
các nhân nhượng hay ngừng các nghĩa vụ khác trong thời hạn thiết yếu để ngăn ngừa
hay khắc phục thiệt hại đó, có hiệu lực ngay từ khi các biện pháp nói trên được
ứng dụng hay trong suốt thời kỳ tham vấn.

Xem Thêm  Private Limited Company Là Gì ? Tất Cả Thông Tin Cần Biết Về Co - private limited company là gì

 

Điều
XX

 

Với bảo lưu rằng
các biện pháp đề cập ở đây không được theo cách tạo ra dụng cụ phân biệt đối xử
độc đoán hay phi lý giữa các nước có cùng điều kiện như nhau, hay tạo ra một sự
hạn chế trá hình với thương mại quốc tế, không có quy định nào trong Hiệp định
này được hiểu là ngăn cản bất kỳ bên ký kết nào thi hành hay ứng dụng các biện
pháp:

α)
      thiết yếu để bảo vệ đạo đức công cộng;

ɓ)
     thiết yếu để bảo vệ cuộc sống và sức khoẻ của loài người,
động vật hay thực vật;

¢)      
liên quan đến xuất hoặc nhập khẩu vàng và bạc;

{d})     
thiết yếu để đảm bảo sự tôn trọng pháp luật và các quy tắc không trái với các
quy định của Hiệp định này, ví dụ như các quy định liên quan tới việc ứng dụng
các biện pháp hải quan, duy trì hiệu lực của quyết sách độc quyền tuân thủ đúng
theo khoản 4 Điều II và Điều XVII, liên quan tới bảo lãnh bản quyền, nhãn hiệu
thương mại và quyền tác giả và các biện pháp thích hợp để ngăn ngừa các hành vi
thương mại gian lận;

e)
      liên quan tới các sản phẩm sử dụng lao động của
tù nhân;

ƒ)
      áp đặt để bảo vệ di sản quốc gia có giá trị nghệ
thuật, lịch sử hay khảo cổ;

ɢ)      
liên quan tới việc gìn giữ nguồn tài nguyên có thể bị hết sạch, nếu các biện
pháp đó cũng được ứng dụng hạn chế cả với sản xuất và tiêu dùng trong nước;

н)
      được thi hành theo nghĩa vụ của một hiệp định
liên chính phủ về một hàng hoá nền tảng ký kết phù phù hợp với các tiêu thức đã trình
ra Các Bên Ký Kết và không bị Các Bên phản đối hay chính hiệp định đó đã trình
ra Các Bên Ký Kết và không bị các bên bác bỏ.*

ι)       
bao hàm các hạn chế với xuất khẩu nguyên liệu do trong nước sản xuất và thiết yếu
có đủ số lượng thiết yếu nguyên liệu đó để đảm bảo hoạt động chế tạo trong thời
kỳ giá nội được duy trì dưới giá ngoại nhằm thực hiện một plan ổn định kinh
tế của chính phủ, với bảo lưu rằng các hạn chế đó không dẫn tới tăng xuất khẩu
hay tăng cường mức bảo lãnh với nghề công nghiệp trong nước và không vi phạm các
quy định của Hiệp định này về không phân biệt đối xử;

j)      
thiết yếu để có được hay phân phối một sản phẩm thuộc diện khan hiếm trong cả
nước hay tại một địa phương; tuy nhiên các biện pháp đó phải tương thích với
các phép tắc theo đó mỗi bên ký kết phải có một phần công bình trong việc quốc
tế phân phối các sản phẩm đó và các biện pháp không tương thích với các quy định
khác của Hiệp định này sẽ được xoá bỏ ngay khi hoàn cảnh dẫn tới nguyên nhân ứng dụng
đã không còn tồn tại nữa. Ngày 30 tháng 6 năm 1960 là muộn nhất Các Bên Ký Kết
sẽ xem xét lại tính thiết yếu của quy định thuộc tiểu khoản này.

 

Điều XXI

 

           
Không có quy định nào trong Hiệp định này được hiểu là

 

           
α)         áp đặt với một bên ký kết nghĩa
vụ phải phân phối những thông tin mà bên đó cho rằng nếu bị điểm lộ sẽ đi ngược
lại quyền lợi thiết yếu của về an ninh của mình; hoặc

 

           
ɓ)         để ngăn cản một bên ký kết
có các biện pháp được cho rằng thiết yếu để bảo vệ các quyền lợi thiết yếu tơí an
ninh của mình:

 

(ι)      liên quan tới chất phóng xạ hay các
chất dùng vào việc chế tạo chúng;

 

(ii)     liên quan tới mua bán vũ khí, đạn dược
và vật dụng chiến tranh và mọi hoạt động thương mại các hàng hoá khác và vật dụng
trực tiếp hay gián tiếp được dùng để cung ứng cho quân đội;

 

(iii)     được ứng dụng trong thời kỳ chiến tranh
hoặc các tình huống nguy cấp trong quan hệ quốc tế khác; hoặc

 

           
¢)         để ngăn cản một bên ký kết
có những biện pháp thực thi các cam kết nhân danh Hiến Chương Liên hợp Quốc, nhằm
duy trì hoà bình và an ninh quốc tế.

 

Điều XXII

1.        
Mỗi bên ký kết sẽ quan tâm xem xét những vấn đề có thể được một bên ký kết khác
đề cập về thúc đẩy đến sự thực thi Hiệp định này và sẽ dành các khả năng thích ứng
để tham vấn khắc phục các vấn đề đó.

 

2.        
Theo yêu cầu của một bên ký kết, Các Bên Ký Kết sẽ có thể tiến hành tham vấn với
một hay nhiều bên ký kết về một vấn đề, tham vấn sẽ được tiến hành theo phương
thức đã nêu tại khoản 1.

 

Điều
XXIII

1.        
Trong trường hợp một bên ký kết nhận thấy một lợi nhuận thu được một cách trực tiếp
hay gián tiếp từ Hiệp định này bị vô hiệu hay vi phạm và việc thực hiện một trong
các mục tiêu của Hiệp định vì vậy bị trở ngại là kết quả của:

 

α)       một bên ký kết không hoàn thiện các
nghĩa vụ đã cam kết trong khuôn khổ Hiệp định này; hoặc

ɓ)    
một bên ký kết khác ứng dụng một biện pháp nào đó, dù biện pháp này có trái với
quy định của Hiệp định này hay không;

¢)       sự tồn tại một tình huống bất
kỳ nào khác.

 

để có thể khắc phục thoả đáng vấn
đề, Bên ký kết đó có thể nêu vấn đề hay đề xuất bằng văn bản với bên kia hay với
(các) bên ký kết khác, được xem như là liên quan. Khi được yêu cầu như vậy mọi bên
ký kết sẽ quan tâm xem xét những vấn đề đã được nêu lên.

 

2.        
Nếu trong thời hạn hợp lý các bên liên quan vẫn không  khắc phục được thoả
đáng hoặc trong trường hợp khó khăn thuộc diện đã nêu tại điểm ¢) khoản đầu của
điều khoản này, có thể nêu vấn đề ra trước Các Bên Ký Kết. Các Bên sẽ tiến hành
ngay việc điều tra về mọi vấn đề đưa ra cho Các Bên và tuỳ trường hợp sẽ 
gợi ý quy tắc khắc phục với các bên ký kết được Các Bên coi là bên gây ra
hay sẽ nghị sự về vấn đề đó. Khi thấy thiết yếu, Các Bên Ký Kết có thể tham vấn
một số bên ký kết, Uỷ ban Kinh tế và xã hội của Liên hợp Quốc và bất kỳ tổ chức
liên chính phủ thích hợp nào khác. Nếu Các Bên thấy rằng tình huống đã đủ
nghiêm trọng để có biện pháp thiết yếu, Các Bên có thể cho phép một hay nhiều
bên ký kết ngừng việc cho bất kỳ một bên ký kết nào được hưởng các nhân nhượng
hay việc ngừng việc thực hiện nghĩa vụ thuộc Hiệp định Chung với các bên này mà
Các Bên coi là có lý, phù phù hợp với hoàn cảnh. Khi thực sự có sự ngừng ứng dụng
nhân nhượng hay thực hiện nghĩa vụ với một bên ký kết, trong thời hạn 60 ngày kể
từ khi việc ngừng có hiệu lực, bên ký kết có quyền thông báo bằng văn bản cho
Thư ký điều hành* của Các Bên Ký Kết ý định từ bỏ Hiệp định chung; Sự từ bỏ đó
có hiệu lực sau 60 ngày kể từ ngày Thư ký điều hành của Các Bên Ký Kết thu được
thông báo nói trên.

 

 

 

Phần
thứ III

 

Điều
XXIV

 

 

1.        
Các quy định của Hiệp định này ứng dụng với lãnh thổ quan thuế chính quốc của
các bên ký kết cũng tương tự mọi lãnh thổ quan thuế mà theo điều khoản XXVI của
Hiệp định này và theo trí não của điều XXXIII hoặc chiểu theo Nghị định thư về
việc Tạm thời thi hành (Hiệp định GATT). Mỗi lãnh thổ quan thuế sẽ được xem như là
một bên ký kết, chỉ thuần tuý nhằm mục đích thực thi Hiệp định này theo lãnh thổ,
với bảo lưu rằng các quy định của Hiệp định này không được hiểu là tạo ra với một
bên ký kết đơn lẻ nào quyền hay nghĩa vụ như giữa hai hay nhiều lãnh thổ quan
thuế đã chấp thuận hiệu lực của Hiệp định này theo trí não của điều khoản XXVI
hoặc ứng dụng theo trí não điều khoản XXXIII hay phù phù hợp với Nghị định thư về
việc Tạm thời ứng dụng.

 

2.        
Nhằm mục đích ứng dụng Hiệp định này, thuật ngữ lãnh thổ quan thuế được hiểu là
bất kể lãnh thổ nào có ứng dụng một biểu thuế quan tách biệt, hoặc có những quy
chế thương mại tách biệt được ứng dụng với một phần đáng kể trong thương mại với
các lãnh thổ khác.

 

3.        
Các quy định của Hiệp định này không thể được hiểu là ngăn cản

 

(α)     một bên ký kết dành lợi thế cho các nước
có chung đường biên giới nhằm tạo thuận tiện cho trao đổi vùng biên giới;

 

(ɓ)     các nước lân cận với Lãnh thổ Tự do vùng
Triesta giành cho vùng này những lợi thế thương mại, với điều kiện là không trái
với các quy định tại các hiệp ước hoà bình được ký sau Thế Chiến II.

 

4.        
Các bên ký kết thừa nhận lòng muốn thương mại được tự do hơn, thông qua
các hiệp định được ký kết tự nguyện, nhờ đó phát triển sự hội nhập hơn nữa kinh
tế các nước tham gia các hiệp định đó. Các Bên cũng thừa nhận rằng việc lập ra
một liên minh quan thuế hay một khu vực mậu dịch tự do phải nhằm mục tiêu là tạo
thuận tiện cho thương mại giữa các lãnh thổ thành viên và không tạo thêm trở ngại
cho thương mại của các thành viên khác với các lãnh thổ này.

 

5.        
Do vậy, các quy định của Hiệp định này không gây trở ngại cho việc thành lập một
liên minh quan thuế hay khu vực mậu dịch tự do hay chấp thuận một hiệp định tạm
thời thiết yếu để lập ra một liên minh quan thuế hay khu vực mậu dịch tự do giữa
các lãnh thổ thành viên, với bảo lưu rằng

 

(α)     trong trường hợp một liên minh quan thuế
hay một hiệp định tạm thời nhằm lập ra một liên minh quan thuế, thuế quan ứng dụng
khi lập ra liên minh quan thuế hay khi ký kết hiệp định tạm thời xét về tổng thể
không dẫn tới mức thuế cao hơn cũng không tạo ra những quy tắc chặt chẽ hơn so
với mức thuế hay quy tắc có hiệu lực vào thời điểm trước khi lập ra liên minh
hay hiệp định được ký kết, tại các lãnh thổ tạo thành liên minh giành cho thương
mại với các bên ký kết không phải là thành viên của liên minh hay không tham
gia hiệp định.

 

(ɓ)     trong trường hợp lập ra một khu vực mậu dịch
tự do hay một hiệp định tạm thời nhằm lập ra một khu vực mậu dịch tự do, thuế
quan duy trì tại mỗi lãnh thổ thành viên và được ứng dụng với thương mại của các
bên ký kết không tham gia khu vực mậu dịch hay hiệp định đó, vào thời điểm khu
vực mậu dịch hay ký kết hiệp định sẽ không cao hơn, cũng như các quy tắc điều
chỉnh thương mại cũng không chặt chẽ hơn mức thuế quan hay quy tắc tương ứng hiện
hành tại mỗi lãnh thổ thành viên trước khi lập ra khu vực mậu dịch hay ký hiệp
định tạm thời, tuỳ theo từng trường hợp; và

 

(¢)     mọi hiệp định tạm thời nói đến tại các điểm
α) và ɓ) phải bao gồm một plan và một chương trình thành lập liên minh quan
thuế hay khu vực mậu dịch tự do trong một thời hạn hợp lý.

 

6.                 
 Nếu khi thỏa mãn các điều kiện nêu tại điểm 5a), một bên ký kết đề
nghị nâng mức thuế một cách không phù phù hợp với các quy định của điều II, thủ tục
đã được dự kiến tại điều XVIII sẽ được ứng dụng. Việc điều chỉnh cân đối tính
đúng mức đến sự bù đắp có được do mức giảm thuế tương ứng với thuế quan của các
lãnh thổ khác tham gia liên minh.

 

7.        
α)         Khi quyết định tham gia một
liên minh quan thuế hay một khu vực mậu dịch tự do hay một hiệp định tạm thời
được ký nhằm lập ra một liên minh hay một khu vực mậu dịch như vậy, bất kỳ bên
ký kết nào cũng sẽ thông báo không chậm trễ cho Các Bên Ký Kết biết và phân phối
mọi thông tin thiết yếu về liên minh hoặc khu vực mậu dịch để Các Bên có thể có
giải trình hay khuyến nghị thiết yếu tới các bên ký kết nêú Các Bên thấy thiết yếu.

 

           
ɓ)         Nếu sau khoảng thời gian phân tích plan
và chương trình thuộc hiệp định tạm thời đã nêu tại khoản 5, có tham vấn với
các bên tham gia hiệp định này và sau khoảng thời gian xem xét đúng mức đến các thông tin
đã được phân phối theo quy định tại điểm α), Các Bên Ký Kết đi đến tổng kết là
hiệp định không thuộc loại dẫn theo thành lập một liên minh quan thuế hay một
khu vực mậu dịch tự do trong thời hạn đã được các bên dự liệu hay thời hạn được
các bên ký kết hiệp định dự tính là không hợp lý, Các Bên sẽ có khuyến nghị với
các bên tham gia hiệp định. Nếu không sắn sàng điều chỉnh cho phù phù hợp với các
khuyến nghị đó, các bên tham gia hiệp định sẽ không duy trì hiệp định hoặc
không triển khai hiệp định nữa.

 

           
¢)         Bất kỳ sự điều chỉnh đáng kể
nào trong plan hay chương trình đã nêu tại điểm ¢) của khoản 5 phải được
thông báo cho Các Bên Ký Kết, Các Bên có thể yêu cầu các bên ký kết liên quan
tham vấn, khi sự điều chỉnh trổ tài khả năng thoả hiệp hay làm chậm trễ không
chính đáng sự tạo dựng liên minh quan thuế hay khu vực mậu dịch tự do.

 

8.        
Trong Hiệp định này, các thuật ngữ được hiểu:

 

           
α)         liên minh quan thuế là sự
thay thế hai hay nhiêu lãnh thổ quan thuế bằng một lãnh thổ quan thuế khi sự
thay thế đó có hệ quả là

 

(ι)    thuế quan và các quy tắc điều chỉnh thương mại
có tính chất hạn chế (ngoại trừ, trong chừng mực thiết yếu, các hạn chế được
phép theo quy định của các điều XI, XII, XIII, XIV, XV và XX) được triệt tiêu về
cơ bản trong trao đổi thương mại giữa các lãnh thổ hợp  thành liên minh,
hoặc tối thiểu cũng  được ngoại trừ về cơ bản với trao đổi hàng hoá có xuất xứ
từ các lãnh thổ này;

(ii)   với bảo lưu như các quy định tại khoản 9, thuế quan
và các quy tắc được từng thành viên của liên minh ứng dụng trong thương mại với
các lãnh thổ bên ngoài là thống nhất về nội dung;

 

           
ɓ)         khu vực mậu dịch tự do được
hiểu là một nhóm gồm hai hay nhiều lãnh thổ quan thuế mà thuế quan và các quy tắc
hạn chế thương mại (ngoại trừ, trong chừng mực thiết yếu, các hạn chế được phép
theo quy định của các Điều XI, XII, XIII, XIV, XV và XX) được triệt tiêu về cơ
bản trong trao đổi thương mại các sản phẩm có xuất xứ từ các lãnh thổ lập thành
khu vực mậu dịch tự do.

 

9.        
Các ưu đãi đã nêu tại khoản 2 của điều khoản trước hết sẽ không chịu thúc đẩy của
việc thành lập liên minh quan thuế hay khu vực mậu dịch tự do; các ưu đãi đó có
thể bị triệt tiêu hay điều chỉnh bằng cách thoả thuận với các bên ký kết liên
quan.* Thủ tục thương thảo với các bên ký kết liên quan đó sẽ ứng dụng trước hết với
việc triệt tiêu các ưu đãi thiết yếu để cho các quy định của các khoản (α)(ι)
và 8  (ɓ) được tuân thủ.

 

10.      
Bằng một quyết định trên nền tảng đa số hai phần ba, Các Bên Ký Kết có thể chấp thuận
những đề xuất có thể không hoàn toàn phù phù hợp với các quy định tại các khoản 5 đến
9 với điều kiện quyết định như vậy đi tới việc thành lập một liên minh quan thuế
hay một khu vực mậu dịch tự do đúng ý nghĩa của điều khoản này.

 

11.      
Căn cứ vào những hoàn cảnh ngoại lệ dẫn tới kết quả là sự thành lập hai nhà nước
độc lập và thừa nhận rằng hai Nhà nước này từ lâu đã tạo thành một thể thống nhất
về kinh tế, các bên ký kết tán thành rằng các quy định của Hiệp định này không
ngăn cản hai nước ký những hiệp định đặc biệt về thương mại song biên, trong lúc
chờ đợi quan hệ thương mại của hai nước được thiết lập chính thức.*

 

12.      
Mỗi bên ký kết sẽ có những biện pháp hợp lý và trong phạm vi quyền hạn của mình
để các chính phủ hay chính quyền địa phương trên lãnh thổ của mình tuân thủ các
quy định của Hiệp định này.

 

Điều
XXV
      

                       

 

1.        
Các đại diện của các bên ký kết sẽ họp định kỳ nhằm đảm bảo thực hiện các quy định
của Hiệp định này bao gồm sự hành động tập thể và nói chung đề tạo thuận tiện
cho Hiệp định này được  thực thi cũng như cho phép đạt được các mục tiêu của
Hiệp định. Khi toàn bộ các bên ký kết của Hiệp định này hành động tập thể được
ghi nhận với danh nghĩa Các Bên Ký Kết.

 

2.        
Tổng Thư ký của Liên hợp Quốc được mời triệu tập phiên hop trước hết của Các Bên
Ký Kết, được tiến hành chậm chất vào ngày 1 tháng3 năm 1948.

 

3.        
Mỗi bên ký kết chỉ có quyền có một phiếu trong mọi phiên họp của Các Bên Ký Kết.

 

4.        
Trừ khi có quy định khác của Hiệp định này, các quyết định của Các Bên Ký Kết
có hiệu lực với đa số phiếu bầu.

 

 5.       
Trong các trường hợp ngoại lệ ngoài những trường hợp quy định trong Hiệp định
này, Các Bên Ký Kết có thể giải phóng một bên ký kết khỏi một nghĩa vụ theo quy
định của Hiệp định này với điều kiện quyết định đó được đa số hai phần ba phiếu
bầu tán thành và đa số đó chiếm quá bán tổng số bên ký kết. Với quy định về phiếu
bầu như trên, Các Bên Ký Kết cũng có thể

 

(ι)      xác nhận loại tình huống ngoại lệ
theo đó các điều kiện bỏ phiếu khác có thể vận dụng để miễn cho một bên ký kết
một hoặc nhiều nghiã vụ,

 

(ii)      xác nhận các tiêu thức thiết yếu để
ứng dụng khoản này.

 

Điều
XXVI

 

1.        
Hiệp định này ký ngày 30 tháng 10 năm 1947.

 

2.        
Hiệp định này này được để ngỏ để mọi bên ký kết chấp thuận cho tới ngày 1 tháng
5 năm 1955, là một bên ký kết hay thương thảo tham gia Hiệp định.

 

3.        
Hiệp định này được lập thành một một bản tiếng Pháp, một bản tiếng Anh, cả hai
văn bản đều có hiệu lực và sẽ được đăng ký với Tổng Thư ký Liên hợp Quốc, Tổng
Thư ký sẽ luân chuyển tới các chính phủ liên quan một bản  sao có xác nhận.

 

4.        
Mỗi chính phủ chấp thuận Hiệp định này phải trình văn bản chấp thuận tới Thư ký
điều hành của Các Bên Ký Kết, Thư ký điều hành sẽ thông tin tới các chính phủ
liên quan ngày thu được văn bản chấp thuận và ngày Hiệp định này có hiệu lực
đúng theo quy định của khoản 6 điều khoản này.

 

5         
α)         Mỗi chính phủ khi chấp thuận Hiệp
định này, là chấp thuận cho cả lãnh thổ chính quốc và các lãnh thổ mà chính phủ
đó đại diện trên trường quốc tế, ngoại trừ các lãnh thổ quan thuế được chính phủ
đó có văn bản thông báo rõ cho Thư ký điều hành của Các Bên Ký Kết vào thời điểm
nộp văn bản chấp thuận.

 

           
ɓ)         Mọi chính phủ sau khoảng thời gian đã chuyển tới
Thư ký điều hành một thông báo, phù phù hợp với các ngoại lệ nêu tại điểm α) khoản
này, có thể thông báo bất kỳ lúc nào rằng kể từ khi đó sự chấp thuận bao hàm cả
một lãnh thổ quan thuế tách biệt đã được chấp thuận trước đó; thông báo đó sẽ
có hiệu lực vào ngày thứ ba mươi tiếp theo ngày Thư ký điều hành thu được. (5)

 

           
¢)         Nếu một lãnh thổ quan thuế
trước đó đã được một bên ký kết chấp thuận hiệu lực ứng dụng Hiệp định này được
quyền tự chủ đầy đủ để tự duy trì các quan hệ thương mại đối ngoại cũng như giải
quyết các vấn đề khác thuộc nội dung của Hiệp định này, hoặc lãnh thổ đó dành
được quyền tự chủ, lãnh thổ đó sẽ được xem như một bên ký kết nếu bên ký kết chịu
trách nhiệm ban đầu tuyên bố quyền tự chủ đó kèm theo các bằng cớ nêu trên.

 

6.        
Hiệp định này có hiệu lực giữa các chính phủ nào đã tuyên bố chấp thuận kể từ
ngày rhức 30 tiếp theo ngày Thư ký điều hành của Các Bên Ký Kết nhạn được công
cụ chấp thuận của các chính phủ nêu tại phụ lục Н có tổng khối lượng thương mại
chiếm 85% tổng thương mại của các chính phủ ghi trong danh sách nói trên. Dụng cụ
chấp thuận của các chính phủ sẽ có hiệu lực kể từ  ngày thứ 30 tiếp theo
ngày nộp.

 

7.        
Liên hợp Quốc được phép đăng ký Hiệp định này kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực.

 

Điều
XXVII
 

 

           
Mọi bên ký kết có quyền ngừng ứng dụng hay rút bỏ toàn thể hay một phần một nhân
nhượng thuộc Biểu tương ứng ở phần phụ lục vào bất kể khi nào với nguyên nhân nhân
nhượng đó ban đầu đã được thương thảo với một chính phủ đã không trở thành hoặc
không đang là bên ký kết. Bên ký kết ứng dụng một biện pháp như vậy sẽ thông báo
ngay cho các bên ký kết và khi được yêu cầu sẽ tham vấn cùng các bên ký kết có
quyền lợi đáng kể với sản phẩm đó.

 

Điều
XXVIII
*

 

1.        
Ngày trước hết của mỗi thời kỳ 3 năm, thời kỳ trước hết khởi đầu ngày 1 tháng 1
năm 1958 (hoặc ngày trước hết của bất kỳ thời kỳ nào có thể được Các Bên Ký Kết
xác nhận thông qua bỏ phiếu với hai phân ba số phiếu có chính kiến) bất kỳ bên
ký kết nào (dưới đây gọi là ‘bên yêu cầu’) có thể điều chỉnh hay rút bỏ một
nhân nhượng thuộc Biểu tương ứng ở phần phụ lục của Hiệp định này, sau khoảng thời gian đã
thương thảo và đạt được thoả thuận với mỗi bên ký kết đã tham gia thương thảo ban đầu
cũng tương tự bất kỳ bên ký kết nào khác có quyền lợi như là partners phân phối chủ
yếu* được Các Bên Ký Kết thừa nhận (cả hai loại bên ký kết cũng như bên yêu cầu
trong  điều khoản này sẽ được gọi là ‘bên ký kết có quan tâm trước hết’)
và với bảo lưu là bên ký kết đó đã tham vấn bất kỳ bên ký kết nào khác có quyền
lợi đáng kể* với nhân nhượng đó* được điều chỉnh hay rút bỏ một nhân nhượng thuộc
Biểu là phụ lục của Hiệp định này.

 

2.        
Tiến trình thương thảo và thoả thuận có thể bao gồm những nhân nhượng nhằm điều chỉnh
bù đắp bằng nhân nhượng về những sản phẩm  khác, các bên ký kết liên quan
sẽ nỗ lực duy trì một mức nhân nhượng chung đối đẳng và cùng có lợi không kém
phần thuận tiện hơn cho thương mại so với mức đã sở hữu được theo Hiệp định này trước
các cuộc thương thảo đó.

 

3.        
(α)        Nếu các bên ký kết có quyền lợi
đa phần không đạt được một thoả thuận trước ngày 1 tháng 5 năm 1958 hoặc trước
khi kết thúc một thời kỳ nêu trong khoản đầu của điều khoản này, bên ký kết có
đề xuất điều chỉnh hoặc rút bỏ các nhân nhượng có thể thực hiện như đã đề xuất
và nếu bên ký kết đó thực thi một biện pháp như vậy, bất kỳ bên ký kết nào đã
tham gia thương thảo ban đầu về nhân nhượng rõ ràng đó, bất kỳ bên ký kết nào có
quyền lợi là nước phân phối đa phần được thừa nhận theo quy định tại khoản đầu
tiên cũng như bất kỳ bên ký kết nào có quyền lợi đáng kể được thừa nhận theo
quy định tại khoản nói trên trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày biện pháp đó được
ứng dụng và sau 30 ngày kể từ ngày Các Bên Ký Kết thu được thông báo trước bằng
văn bản có thể rút bỏ những nhân nhượng đáng kể tương tự đã được thương thảo
ban đầu với bên yêu cầu.

 

           
(ɓ)        Nếu các bên ký kết có quyền lợi
đa phần đạt được một thoả thuận nhưng không thoả đáng với một bên ký kết khác
có quyền lợi đáng kể đã được thừa nhận như đã quy định tại khoản trước hết, bên
ký kết này, trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày biện pháp đạt được trong thoả thuận
đó được ứng dụng và sau 30 ngày kể từ ngày Các Bên Ký Kết thu được thông báo
trước bằng văn bản có thể rút bỏ những nhân nhượng đáng kể tương tự đã được
thương thảo ban đầu với bên yêu cầu.

 

4.        
Bất kỳ lúc nào và trong những hoàn cảnh đặc biệt, Các Bên Ký Kết có thể cho
phép* một bên ký kết tiên hành thương thảo nhằm điều chỉnh hay rút bỏ một nhân nhượng
trong Biểu tương ứng thuộc phụ lục của Hiệp định này, theo những thủ tục và điều
kiện dưới đây:

 

(α)     Các cuộc thương thảo đó* cũng như mọi tham vấn
liên quan sẽ được tiến hành phù phù hợp với các quy định tại khoản 1 và 2 của điều
khoản này.

 

(ɓ)     Nếu thương thảo đạt đến được một thoả thuận
giữa các bên ký kết có quyền lợi đáng kể đa phần, sẽ ứng dụng các quy định của
khoản 3b) của điều khoản này.

 

(¢)     Nếu không đạt được một thoả thuận giữa
các bên ký kết có quyền lợi đa phần trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày được phép
tiến hành thương thảo hoặc trong thời hạn nào đó dài hơn thế đã được Các Bên Ký Kết
xác nhận, bên yêu cầu có thể mang vấn đề ra Các Bên Ký Kết khắc phục.

 

({d})     Nếu được yêu cầu như vậy, Các Bên Ký Kết
sẽ phải nhanh chóng xem xét và thông báo ý kiến của mình cho các bên ký kết có
quyền lợi đa phần biết để khắc phục vấn đề. Nếu không khắc phục được, các quy
định của khoản 3b) sẽ được ứng dụng như là trường hợp các bên ký kết có quyền lợi
đa phần đã đoạt được thoả thuận. Nếu giữa các bên ký kết có quyền lợi đa phần
không đạt được thoả thuận, bên yêu cầu có thể điều chỉnh hay rút bỏ các nhân
nhượng, trừ khi Các Bên Ký Kết xác nhận rằng bên ký yêu cầu chưa làm hết những
gì hợp lý và có thể để mang ra một sự bù đắp đúng mức*, Nếu một biện pháp như vậy
được ứng dụng, mọi bên ký kết đã tham gia thương thảo ban đầu, mọi bên ký kết có
quyền lợi như là nước phân phối đa phần được thừa nhận như quy định tại khoản
4a) và toàn bộ các bên ký kết có quyền lợi đáng kể được thừa nhận như quy định tại
khoản 4a) trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày biện pháp đó được ứng dụng và sau 30
ngày kể từ ngày Các Bên Ký Kết thu được thông báo trước bằng văn bản có thể
rút bỏ những nhân nhượng đáng kể tương tự đã được thương thảo ban đầu với bên
yêu cầu.

 

5.        
Trước ngày 1 tháng 1 năm 1958 và trước mỗi thời kỳ đã đề cập tại khoản đầu
tiên, mọi bên ký kết đều có thể, bằng cách gửi thông báo trước bằng văn bản,
dành quyền điều chỉnh Biểu tương ứng trong thời kỳ sắp tới, với điều kiện thỏa mãn
các thủ tục đã nêu tại khoản từ 1 đến 3. Nếu một bên ký kết sử dụng đến quyền
này, bất kể bên ký kết nào khác cũng có quyền điều chỉnh hay rút bỏ bất kỳ nhân
nhượng nào đã thương thảo ban đầu với bên ký kết đó, với điều kiện thỏa mãn cùng
các thủ tục nêu trên.

 

Điều
XXVIII
(Ɓ)

 

 

1.        
Các bên ký kết thừa nhận rằng thuế quan thường vẫn là trở ngại lớn với thương mại;
do vậy các cuộc thương thảo nhằm giảm đáng kể mức chung của thuế quan và thuế hay
khoản thu khác đánh vào hàng nhập khẩu hay xuất khẩu, đặc biệt nhằm giảm các
khoản thuế quan có suất thuế cao đến triệt tiêu nhập khẩu dù số lượng nhỏ, và
tiến hành có tính toán đúng mức đến mục tiêu của Hiệp định này cũng như các nhu
cầu khác nhau của mỗi bên ký kết, chúng sẽ có tầm trọng yếu lớn với việc mở rộng
thương mại quốc tế. Do vậy, Các Bên Ký Kết có thể tổ chức những đợt thương thảo
như vậy theo từng thời kỳ.

 

2.        
α)         Các cuộc thương thảo thực hiện
phù phù hợp với các quy định của Điều khoản này có thể tiến hành theo từng sản phẩm
hay dựa trên những thủ tục được chấp thuận bởi nhiều bên liên quan. Các cuộc đàm
phán đó có thể nhằm vào giảm thuế quan hay đạt được cam kết thuế trần ở mức hiện
có khi thương thảo hay cam kết không nâng những loại thuế quan rõ ràng nào đó sẽ
không vượt quá một mức nhất định, hay mức thuế quan trung bình đánh vào một chủng
loại sản phẩm nhất định sẽ không vượt quá một mức nhất định. Các cam kết thuế
quan trần ở mức thấp hoặc bằng 0% được thừa nhận về phép tắc là các nhân nhượng
ngang bằng như giảm thuế ứng dụng với những mặt hàng có thuế suất cao.

 

            ɓ)
        Các bên ký kết thừa nhận rằng nhìn
chung thành công của các cuộc thương thảo đa biên tuỳ thuộc vào sự tham gia của tất
cả các bên ký kết có khối lượng trao đổi thương mại lớn với các bên ký kết khác
trong nền ngoại thương của mình.

 

3.        
Các cuộc thương thảo sẽ được tiến hành trên một nền tảng cho phép tạo điều kiện thích hợp
để tính đến

 

α)       các nhu cầu của mỗi bên ký kết
và của mỗi nghề sản xuất;

 

ɓ)      nhu cầu của các nước chậm phát triển
cần vận dụng thuế quan linh hoạt để bảo lãnh nhằm tạo thuận tiện cho sự phát triển
kinh tế và các nhu cầu  đặc biệt của các nước này duy trì thuế quan nhằm đảm
bảo nguồn thu.

 

¢)       mọi tình huống khác có thể cần
được xem xét, kể cả nhu cầu của các bên ký kết về nguồn thu* và các nhu cầu
phát triển, kế hoạch và các nhu cầu khác.

 

 

Điều
XXIX

 

   

                       

1         
Các bên ký kết cam kết, đến hết mức quyền hành pháp của mình cho phép, 
tuân thủ các phép tắc chung nêu tại các chương từ Ι đến VI và chương IX của
Hiến Chương Havana, cho tới khi họ chấp thuận Hiến Chương theo những thủ tục hợp
hiến.*

 

2.        
Phần hai của Hiệp định này tạm thời chưa ứng dụng cho tới khi Hiến CHương Havana
có hiệu lực.

 

3.        
Nếu đến ngày 30 tháng 9 năm 1949 Hiến Chương Havana chưa có hiệu lực, các bên
ký kết sẽ họp vào ngày 31 tháng 12 năm 1949 để thoả thuận xem Hiệp định này có
được điều chỉnh, cần thay thế hay vẫn tiếp tục duy trì.

 

4.        
Nếu vào một thời điểm nào đấy, Hiệp định Havana không còn hiệu lực, Các Bên Ký
Kết sẽ họp sớm nhất có thể sau khoảng thời gian thoả thuận xem Hiệp định này có cần được điều
chỉnh hay tiếp tục duy trì. Cho tới ngày một hiệp định về đề tài này được ký kết,
Phần II chủa Hiệp định này này lại sẽ có hiệu lực, mặc nhiên hiểu là các quy định
của Phần II, ngoại trừ điều XIII, sẽ được thay thế nguyên văn, bằng nội dung có
trong Hiến Chương Havana; và mặc nhiên hiểu rằng không một bên ký kết nào sẽ bị
ràng buộc bởi các quy định không có tính ràng buộc bên ký kết đó vào thời điểm
Hiến Chương hết hiệu lực.

 

5.        
Nếu một bên ký kết đã không chấp thuận Hiến Chương Havana khi Hiến Chương có hiệu
lực, Các Bên Ký Kết sẽ trao đổi để thống nhất xem Hiệp định này sẽ được hoàn chỉnh
hay điều chỉnh theo cách nào trong chừng mực việc đó thúc đẩy đến quan hệ giữa
bên ký kết không chấp thuận Hiến Chương và các bên ký kết khác. Cho tới ngày có
một thoả thuận khác về vấn đề này, các quy định của Phần II Hiệp định này vẫn
được ứng dụng giữa bên ký kết đó và các bên ký kết khác, không phụ thuộc vào các
quy định của khoản 2 Hiệp định này.

 

6.        
Các bên ký kết, thành viên của Tổ chức Thương mại Quốc tế sẽ không viện các quy
định của Hiệp định này để ngăn cản thi hành một quy định nào đó của Hiến Chương
Havana. Việc ứng dụng phép tắc nêu tại khoản này với một bên ký kết không phải
là thành viên của Tổ chức Thương mại Quốc tế sẽ được thoả thuận đúng theo các
quy định của khoản 5 điều khoản này.

                                   

 

Điều
XXX

 

1.        
Trừ những trương hợp có những quy định rõ ràng khác về sửa đổi Hiệp định này, những
điều chỉnh với phần Ι của Hiệp định này cũng tương tự những quy định của điều khoản
XXIX hoặc điều khoản này sẽ có hiệu lực kể từ khi được sư tán thành của toàn bộ các
bên ký kết và những điều chỉnh với các quy định khác của Hiệp định này sẽ có hiệu
lực với những bên ký kết đã chấp thuận chúng, sau khoảng thời gian được hai phần ba các bên
ký kết chấp thuận và tiếp sau này là sau khoảng thời gian được sự chấp thuận của mỗi bên ký kết
sót lại kể từ khi họ chấp thuận.

 

2.        
Mỗi bên ký kết khi chấp thuận một sự sửa đổi Hiệp định này sẽ nộp dụng cụ chấp
nhận cho Tổng Thư ký Liên hợp Quốc trong thời hạn do Các Bên Ký Kết quy định.
Các Bên có thể quyết định việc một sự điều chỉnh có hiệu lực theo điều kiện của
điều khoản này mang nội dung sao cho bất kỳ bên ký kết nào có thể rút lui thôi
không tham gia Hiệp định khi không chấp thuận sự điều chỉnh đó trong thời hạn
quy định hay được tiếp tục tham gia khi được Các Bên Ký Kết ưng thuận.

 

Điều
XXXI

 

 

           
Không làm tổn hại đến các quy định của khoản 12 điều XVIII, của điều XXIII, hoặc
của khoản 2 điều XXX, bất kỳ bên ký kết nào cũng có thể rút bỏ việc tham gia Hiệp
định này hay rút bỏ nhân danh một hay nhiều lãnh thổ quan thuế được bên ký kết
đó đại diện trên trường quốc tế và vào thời điểm rút bỏ đang có quyền tự chủ
hoàn toàn trong quan hệ ngoại thương và trong các vấn đề khác được Hiệp định
này điều chỉnh. việc rút bỏ sẽ có hiệu lực khi kết thúc thời hạn 6 tháng kể từ
ngày Tổng Thư ký Liên hợp Quốc thu được thông báo rút bỏ bằng văn bản.

 

Điều
XXXII

 

 

1.        
Những chính phủ thi hành đúng các quy định nêu tại điều XXVI, tại điều XXXIII
hoặc theo trí não Nghị định Thư về việc tạm thời ứng dụng sẽ được xem như là bên
ký kết của Hiệp định này.

 

2.        
Vào bất kỳ thời điểm nào sau khoảng thời gian Hiệp định này có hiệu lực căn cứ vào khoản 6,
điều XXVI, các bên ký kết đã chấp thuận Hiệp định này phù phù hợp với khoản 4 điều
XXVI, bất kỳ lúc nào kể từ sau khoảng thời gian Hiệp định này đã có hiệu lực, có thể quyết định
việc một bên ký kết đã không chấp thuận Hiệp định này theo đúng tiến trình đó
không đang là bên ký kết Hiệp định.

 

Điều
XXXIII

 

           
Bất kể chính phủ nào không phải là một bên của Hiệp định này hay bất kể chính
phủ nào hành động  nhân danh một lãnh thổ quan thuế tách biệt có quyền tiến
hành quan hệ ngoại thương và các vấn đề khác được Hiệp định này điều chỉnh, có
thể tự mình hay nhân danh lãnh thổ đó tham gia Hiệp định này, theo những điều
kiện được chính phủ đó và Các Bên Ký Kết xác nhận. Các Bên Ký Kết sẽ có Quyết định
kết nạp theo khoản này được tiến hành trên nền tảng đồng thuận đa số hai phần ba.

 

Điều
XXXIV

 

Các phụ lục của Hiệp định này này
làm thành phòng ban nối liền của Hiệp định này.

 

                                   

Điều
XXXV

 

 

1.        
Hiệp định này hay điều II của Hiệp định này sẽ không ứng dụng giữa một bên ký kết
và một bên ký kết khác

 

α)       nếu cả hai bên ký kết không tiến
hành thương thảo thuế quan với nhau,

 

ɓ)      nếu một trong hai bên không tán
thành việc ứng dụng nêu trên khi một trong hai bên tham gia

 

phần
IV
*

 

Thương mại và phát triển

 

Điều
XXXVI

 

 

1*.      
Các bên ký kết,

 

α)       ý thức rằng các mục tiêu cơ bản
của Hiệp định này kể cả việc nâng cao mức sống và dần dần phát triển nền kinh
tế của toàn bộ các bên ký kết, và xét thấy rằng việc thực hiện mục tiêu này đặc
biệt khẩn thiết với các bên ký kết kém phát triển hơn;

 

ɓ)      Xét thấy rằng thu nhập qua xuất khẩu
của các bên ký kết có nền kinh tế kém phát triển hơn có thể đóng vai trò quyết
định trong việc phát triển kinh tế của mình, và rằng sự đóng góp đó có tầm quan
trọng thế nào còn tuỳ thuộc vào giá thành mà các bên ký kết đã phải trả cho việc
nhập khẩu các sản phẩm thiết yểu, vào khối lượng xuất khẩu và giá thành có được nhờ
xuất khẩu;

 

¢)       ghi nhận có sự chênh lệch lớn
giữa mức sống của các nước chậm phát triển và mức sống ở các nước khác;

 

{d})      thừa nhận rằng hành động riêng và tập
thể là không thể thiếu để tạo thuận tiện cho sự phát triển nền kinh tế của các
bên ký kết kém phát triển hơn và đảm bảo nâng cao nhanh chóng mức sống của các
nước này.

 

e)       thừa nhận tăng thương mại quốc
tế được xem như là dụng cụ phục vụ tiến bộ xã hội phải được điều chỉnh theo quy tắc
và thủ tục và các biện pháp phù phù hợp với các quy tăc và thủ tục  như vậy
thích ứng với các mục tiêu đã nêu trên;

 

ƒ)       ghi nhận rằng Các Bên Ký Kết
có thể cho phép các bên ký kết chậm phát triển được sử dụng những biện pháp đặc
biệt để tạo thuận tiện cho thương mại và phát triển của mình;

 

thoả thuận như dưới đây.

 

2.        
Thiết yếu đảm bảo sự tăng trưởng nhanh và liên tục thu nhập từ xuất khẩu của
các bên ký kết chậm phát triển hơn.

 

3.        
Thiết yếu phải có những nỗ lực tích cực được đảm bảo cho các bên ký kết chậm
phát triển hơn có được một phần trong sự tăng trưởng của thương mại quốc tế
tương xứng với sự thiết yếu phát triển kinh tế của họ.

 

4.        
Do vì nhiều bên ký kết chậm phát triển vẫn phụ thuộc vào xuất khẩu những sản phẩm
sơ cấp*, cần đảm bảo cho các sản phẩm này những điều kiện thuận tiện và có thể
chấp thuận được để thâm nhập thị trườg toàn cầu trong chừng mực có thể và nếu có
thể, phân tích các biện pháp nhằm ổn định và cải tổ tình hình thị trường thế
giới các sản phẩm này, nhất là các biện pháp nhằm ổn định giá thành ở mức bù đắp
thích đáng, cho phép mở rộng thương mại toàn cầu, và mở rộng nhu cầu, và tạo sự
tăng trưởng năng động và liên tục  cho thu nhập xuất khẩu thực tiễn của các
nước này, cho phép các nước đó ngày càng có nhiều nguồn phục vụ cho phát triển
kinh tế.

 

5.        
Sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng của các bên ký kết chậm phát triển sẽ được
thuận tiện hơn nhờ các biện pháp phong phú hoá* cơ cấu kinh tế và tránh sự phụ thuộc
quá mức vào xuất khẩu các sản phẩm sơ cấp. Do vậy cần đảm bảo đến mức cao nhất
có thể, và trong những điều kiện thuận tiện, thời dịp xâm thị tốt hơn cho các sản
phẩm sơ chế và chế tạo mà các nước kém phát triển hơn có quyền lợi hoặc có thể
quan tâm xuất khẩu.

 

6.        
Vì các bên ký kết kém phát triển hơn thiếu nghiêm trọng thu nhập ngoại tệ cũng
như các nguồn thu khác, có sự liên quan chặt chẽ giữa thương mại và viện trợ
phát triển. Do vậy cần phải có sự phối hợp chặt chẽ và thường xuyên giữa Các Bên Ký
Kết và các tổ chức quốc tế cho vay nhằm đóng góp có hiệu quả nhất làm giảm nhẹ
gánh nặng của các bên ký kết kém phát triển hơn để phát triển kinh tế của các
nước này.

 

7.        
Phải có sự phối hợp giữa Các Bên Ký Kết, các tổ chức liên chính phủ khác và các
đơn vị và các thể chế thuộc Liên hợp Quốc hoạt động trong những ngành nghề liên
quan tới phát triển thương mại và kinh tế của các nước kém phát triển hơn.

 

8.        
Các bên ký kết phát triển không chờ đợi sự đãi ngộ đối đẳng khi cam kết trong
thương thảo thương mại, qua giảm bớt hay triệt tiêu thuế quan và các trở ngại khác
với thương mại của các bên ký kết kém phát triển hơn.

 

9.        
Các bên ký kết sẽ nỗ lực có ý thức và kiên quyết tự mình hành động cũng như
hành động tập thể nhằm thực thi những phép tắc và mục tiêu nêu trên.

 

Điều
XXXVII

 

1.        
Các bên ký kết phát triển trong chừng mực có thể – có nghĩa là trừ khi có nguyên nhân
bắt buộc ngăn cản, có thể bao gồm cả những nguyên nhân pháp lý- sẽ làm hết sức mình đẻ
thực hiện các quy định sau:

 

α)       dành ưu tiên cao cho việc giảm
và triệt tiêu các trở ngại với thương mại các sản phẩm hiện tại hay có thể sau
này đặc biệt được các bên ký kết kém phát triển hơn quan tâm, kể cả thuế quan
hay các hạn chế khác tạo thành sự khác biệt phi lý giữa sản phẩm sơ cấp và cũng
các sản phẩm đó đã sơ chế;*

         

ɓ)      Tự kiếm chế việc đưa ra thêm hay
tăng thêm thuế quan hoặc các trở ngại phi thuế với nhập khẩu các sản phẩm mà hiện
nay hay có thể sau này đặc biệt được các bên ký kết kém phát triển hơn quan tâm
xuất khẩu;

 

           
¢)     
(ι)            Tự kiềm
chế việc đưa ra các biện pháp thuế khác,

 

(ii)          trong lúc
điều hành cơ chế thuế dành sự ưu tiên cao cho việc giảm hay triệt tiêu các biện
pháp thu hiện hành,

 

                       
có thể dẫn tới giảm bớt hay kìm hãm đáng kể sự phát triển nhu chuồng xí dùng các
sản phẩm sơ cấp hay đã sơ chế xuất xứ toàn thể hay một phần từ lãnh thổ các
bên ký kết kém phát triển hơn, khi các biện pháp đó được ứng dụng riêng với các
sản phẩm này.

 

2.         α)
         Khi thấy một trong những quy định
của điểm α), ɓ) hay ¢) của khoản trước hết không đem kết quả, hoặc bên ký kết
không thực thi các quy định tương ứng với khả năng hoặc bất kỳ một bên ký kết
nào khác sẽ báo cho Các Bên Ký Kết biết.

 

ɓ)        
ι)          Theo yêu cầu của bất kỳ
bên ký kết nào quan tâm và không phụ thuộc vào các tham vấn song biên có thể
đang được tiến hành, Các Bên Ký Kết sẽ tiến hành tham vấn về đề tài nói trên với
bên ký kết hữu quan và với bất kỳ bên ký kết nào quan tâm nhằm đạt tới một giải
pháp thoả đáng cho toàn bộ các bên ký kết hữu quan, để thực hiện các mục tiêu
nêu tại điều XXXVI. Trong lúc tiến hành tham vấn, Các Bên sẽ xem xét những lý
do được mang ra cho trường hợp các quy định nêu tại điểm α), ɓ) hay ¢) của khoản
trước hết không mang lại kết quả,

 

           
ii)          Do vì việc các bên ký
kết hành động riêng rẽ để thực thi những quy định của điểm α), ɓ) hay ¢) của
khoản trước hết, trong một số trường hợp có thể  sẽ đơn giản hơn khi có một
hành động tập thể tiến hành chung với các bên ký kết khác đã phát triển, khi thấy
thích hợp có thể tổ chức tham vấn để đạt tới mục tiêu nói trên.

 

           
iii)         Khi thấy thích hợp, tham vấn
giữa Các Bên Ký Kết cũng có thể nhằm thực hiện một thoả thuận về hành động tập
thể để đạt được những mục tiêu của Hiệp định này, như đã dự kiến tại khoản đầu
tiên của điều XXV.

 

3.        
Các bên ký kết đã phát triển sẽ:

 

(α)       
làm hết sức mình nhằm duy trì chênh lệch thương mại ở mức thoả đáng trong những
trường hợp giá thành những hàng hoá được sản xuất toàn thể hay một phần tại lãnh
thổ cuả các bên ký kết kém phát triển hơn do chính phủ trực tiếp hoặc gián tiếp
định đoạt;

 

(ɓ)       
tích cực phân tích ứng dụng các biện pháp* có tác dụng mở rộng khả năng tăng nhập
khẩu từ các bên ký kết kém phát triển hơn và phối hợp hành động quốc tế thích hợp
nhằm mục đích này.

 

(¢)       
nhìn nhận một cách đặc biệt quyền lợi thương mại của các bên ký kết kém phát
triển hơn khi chuẩn bị ứng dụng những biện pháp khác để khắc phục những vấn đề
tách biệt được Hiệp định này này cho phép, đồng thời khai thác mọi khả năng khắc
phục có tính chất xây dựng trước khi thực thi các biện pháp nói trên, nếu đấy
là những biện pháp có thể làm tổn hại tới quyền lợi cơ bản của các bên ký kết
kém phát triển hơn.

 

4.        
Mỗi bên ký kết kém phát triển hơn chấp thuận tiến hành các biện pháp thích hợp để
thực hiện các quy định của Phần IV vì quyền lợi của các bên ký kết khác cũng
kém phát triển hơn, trong chừng mực những biện pháp đó tương thích với nhu cầu
hiện tại cũng như trong tương lai vì sự phát triển, khả năng tài chính và nền
thương mại của mình, có tính đến diễn tiến của trao đổi thương mại trong quá khứ
cũng như quyền lợi thương mại tổng thể của các bên ký kết kém phát triển hơn.

 

5.        
Khi thực thi những cam kết đã nêu tại các khoản từ 1 đến 4, mỗi bên ký kết sẽ
nhanh chóng giành cho bất kỳ một hay nhiều bên ký kết nào khác có quan tâm mọi
thuận tiện trong  tham vấn theo các thủ tục thông thường của Hiệp định này
về bất kỳ vấn đề nào hay bất kỳ khó khăn nào có thể phát sinh.

 

Điều
XXXVIII

 

 

1.        
Các bên ký kết khi hành động tập thể sẽ phối hợp trong khuôn khố cũng như bên
ngoài Hiệp định này, tuỳ hoàn cảnh thích hợp, nhằm xúc tiến việc thực hiện các
mục tiêu đã nêu tại Điều XXXIV.

 

2.        
Đặc biệt, Các Bên Ký Kết sẽ phải:

 

α)    trong những trường hợp thích hợp, hành động
thông qua thoả thuận quốc tế nhằm đảm bảo những điều kiện xâm thị tốt nhất có
thể chấp thuận được giành cho các sản phẩm sơ cấp mang ý nghĩa đặc biệt với các
bên ký kết kém phát triển hơn và nhằm xem xét những biện pháp nhằm ổn định và
và cải tổ tình hình thị trường những sản phẩm này trên toàn cầu, kể cả các
biện pháp nhằm vào ổn định giá thành xuất khẩu các sản phẩm đó ở mức công bình và
bù đắp thoả đáng.

 

ɓ)    nỗ lực phối hợp thích đáng với Liên hợp Quốc
cũng như các đơn vị và tổ chức thuộc Liên hợp Quốc, kể cả các thể chế có thể sẽ
được lập ra theo khuyến nghị của Hội nghị Liên hợp Quốc về Thương mại và Phát
triển trong hoạch định quyết sách thương mại và quyết sách phát triển;

 

¢)    phối hợp trong phân tích cả plan và chính
sách phát triển của từng nước trong các bên ký kết kém phát triển hơn và xem
xét mối quan hệ giữa thương mại và viện trợ, nhằm mang ra những biện pháp rõ ràng
tạo thuận tiện cho việc phát triển các tiềm năng xuất khẩu và tạo thuận tiện cho
các sản phẩm thuộc các nghề mới được mở rộng có thời dịp xâm thị và phối hợp
thích đáng với các chính phủ và các tổ chức quốc tế có thẩm quyền về tài trợ
cho phát triển kinh tế về mặt này để tiến hành ngiên cứu có hệ thống mối quan hệ
giữa thương mại và viện trợ cho từng bên ký kết kém phát triển hơn tách biệt
nhằm xác nhận rõ tiềm năng xuất khẩu, triển vọng thị trường và bất kỳ hành động
nào có thể được yêu cầu;

 

{d})    thường xuyên theo dõi tình tiết của thương mại
quốc tế, đồng thời nắm chắc tỷ lệ tăng trưởng thương mại của các bên ký kết kém
phát triển hơn và có những khuyến nghị thích phù hợp với hoàn cảnh với các bên ký kết;

 

e)    phối hợp tìm kiếm những phương pháp thực tiễn để mở rộng
thương mại nhằm phát triển kinh tế qua hài hoà và quy hoạch trên quy mô quốc tế
về quyết sách và quy tắc quốc gia bằng cách ứng dụng các kpi kỹ thuật và
thương mại trong sản xuất, vận tải, và thương mại hoá cũng như xúc tiến xuất khẩu
nhờ việc tạo thành một cơ chế cho phép đẩy mạnh thông dụng thông tin thương mại và
phân tích thị trường; và

 

ƒ)     mang ra những thoả thuận về thể chế có thể
thiết yếu để đạt được những mục tiêu đã nêu tại điều XXXVI và thực thi các quy
định của Hiệp định này.


Phụ
lục 𝓐

Danh sách những lãnh thổ đã nêu tại

điểm (𝓐) khoản 2 Điều khoản trước hết

Vương quốc Anh
và Bắc Ai-len

Các lãnh thổ phụ
thuộc vào Vương quốc Anh và Bắc Ai-len

Ca-na-đa

Liên Bang úc và
các lãnh thổ phụ thuộc vào Liên Bang úc

Tân Tây lan và
các lãnh thổ phụ thuộc vào Tân Tây lan

Liên Hiệp Nam
Phi kể cả Tây Nam Phi

Ai- len

ấn độ (kể từ
ngày 10 tháng 4 năm 1947)

Đất mới

Nam Rhodesia

Miến điện

Xây- lan

 

           
Trong một số lãnh thổ nêu trên, có tồn tại hai hay nhiều thuế xuất ưu đãi ứng dụng
với một vài sản phẩm. Thông qua thoả thuận với các bên ký kết là bên phân phối
đa phần các sản phẩm nói trên trong số các bên được hưởng suất thuế đãi ngộ tối
huệ quốc, các lãnh thổ này có thể thay thế các ưu đãi đó bằng một thuế suất ưu
đãi duy nhất mà về tổng thể không kém thuận tiện hơn cho các bên phân phối được
hưởng sự đãi ngộ này so với trước khi có sự thay thế đó.

Xem Thêm  NHỮNG LỜI CHÚC HAY VÀ Ý NGHĨA MỪNG NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20/11 - chuc mung nha giao viet nam

 

           
Việc chuyển một biên độ ưu đãi thuế quan tương ứng sang một khoản thuế hay khoản
thu khác thay cho biên độ ưu đãi đã có trong cơ chế thuế trong nước, có hiệu lực
vào ngày 10 tháng 4 năm 1947 chỉ ứng dụng riêng giữa các hai hay nhiều lãnh thổ
đã nêu trong  phụ lục này sẽ không được xem như là một sự tăng mức độ ưu đãi
thuế quan.

 

           
Những thoả thuận ưu đãi nêu tại khoản 5 ɓ) điều XIV là những thoả thuận có hiệu
lực tại Vương Quốc Anh vào ngày 10 tháng 4 năm 1947 theo trí não các hiệp định
đã ký với Ca-Na-đa, úc và Niu-di-lân về thịt bò siêu đông và cấp đông, thịt cừu
và dê siêu đông, thịt lợn siêu đông và cấp đông, và mỡ. Đã có dự kiến, không
làm tổn hại đến bất kỳ một biện pháp nào thi hành điểm н) điều XX, là những thoả
thuận này sẽ được triệt tiêu hay thay thế bằng ưu đãi thuế quan và việc đàm
phán sẽ được các nước liên quan trực tiếp hay gián tiếp đó những sản phẩm này
tiến hành sớm nhất có thể.

 

           
Thuế (nội địa) ứng dụng với việc thuê phim có hiệu lực tại Niu di lân vào ngày
10 tháng 4 năm 1947, đề thực hiện Hiệp định này sẽ được xem như là một khoản thuế
quan theo nội dung điều thứ nhất. Hạn chế số lượng ứng dụng với những người cho
thuê phim ở Niu-di-lân vào ngày 10 tháng 4 năm 1947, để ứng dụng Hiệp định này,
sẽ được coi hạn mức trình chiếu tại điều khoản IV.

 

           
Vùng Dominion của ấn Độ và Pa-kit-xtan không được nêu tách biệt trong danh sách
nêu trên, vì các vùng đó chưa tồn tại độc lập vào ngày 10 tháng 4 năm 1947.

 

 

Phụ
lục Ɓ

 

Danh sách những lãnh thổ thuộc liên minh PHáp nêu tại điểm
ɓ) khoản 2 điều khoản trước hết

 Pháp

Phi xích đạo thuộc
Pháp (lòng chảo thoả thuận của Congo và lãnh thổ khác)

Đông phi thuộc
Pháp

Ca-mê-run dưới sự
bảo trợ của Pháp

Bờ biển Sô-ma-li
thuộc Pháp và những lãnh thổ phụ thuộc

Những  lãnh
thổ thuộc Pháp tại Châu Đại Dương

Những  lãnh
thổ thuộc Pháp tại Công- đô-ni vùng Hebride

Đông Dương

Ma-đa-gat-ca và
những lãnh thổ phụ thuộc

Ma-rốc

Ca-le-đô-ni mới
và lãnh thổ phụ thuộc

Vùng Thánh Pi-e
và Mi-cơ-lông

Tô-gô dưới sự bảo
trợ của Pháp

Tuy-ni-di

 

 


 

 

Danh sách những lãnh thổ nêu tại điểm 2b) điều
khoản trước hết về liên minh quan thuế giữa Bỉ, Lục-xâm-bảo và hà- lan

 

Liên
minh kinh tế Bỉ-Lúc xăm bua

Côn-gô
thuộc Bỉ

Ru-an-đa-ᑗ-run-đi


lan

Tân
Gui-nê

Su-ri-nam

Quần đảo An-ti
thuộc Hà lan

Cộng hoà
In-đô-nê-xi-a

Chỉ ứng dụng với
nhập khẩu vào những lãnh thổ hợp thành Liên minh Quan thuế.

 

 

Phụ
lục 𝓓

 

Danh sách những lãnh thổ nêu tại khoản  2b) 
điều khoản trước hết liên quan tới Hoa Kỳ

 

Hoa kỳ (lãnh thổ
quan thuế)

Những lãnh thổ
phụ thuộc vào Hoa kỳ

Cộng hoà
Phi-lip-pin

 

           
Việc chuyển một biên độ ưu đãi thuế quan tương ứng sang một khoản thuế hay khoản
thu khác thay cho biên độ ưu đãi đã có trong cơ chế thuế trong nước, có hiệu lực
vào ngày 10 tháng 4 năm 1947 chỉ ứng dụng riêng giữa các hai hay nhiều lãnh thổ
đã nêu trong  phụ lục này sẽ không được xem như là một sự tăng mức độ ưu đãi
thuế quan.

 

 

 

 

 

 

 

 

Phụ
lục E

 

Danh sách những lãnh thổ có hiệp định ưu đãi giữa Chi-lê
và các nước láng giềng nêu tại khoản  2d)  điều khoản trước hết

 

Ưu đãi chỉ có hiệu lực riêng giữa
một bên là Chi-lê và một bên là

 

1.        
Ac-hen-ti-na

2.        
Bô-li-vi-a

3.        
Pê-ru

 

 

Phụ lục ₣

 

Danh sách những lãnh thổ có hiệp định ưu
đãi giữa Li-bi và liban với các nước láng giềng nêu tại khoản  2d) 
điều khoản trước hết

 

 

           
Ưu đãi chỉ có hiệu lực riêng giữa một bên là liên minh quan thuế Li-ban-Sy-ri
và một bên là

 

1.        
Pa-let-xtin

 

2.        
Jóc-da-ni         

 

 

Phụ lục ₲

 

Ngày rõ ràng để xác nhận biên độ ưu đãi tối
đa nêu tại khoản 4 điều khoản trước hết

 

 

Úc
…………………………………………………………………………..

15 tháng 10 năm 1946

Ca-na-đa
………………………………………………………………….

1 tháng 7 năm 1939

Pháp …………………………………………………….
…………………

1 tháng 1 năm 1939

Nam Ro-đê-di
…………………………………………………………..

1 tháng 5 năm 1941

Liên minh quan thuế Li-băng-Sy-ri…………..
…………………

30 tháng 10 năm 1939

Liên minh Nam phi
…………………………………………………….

1 tháng 7 năm 1938

Nam Rho-de-si-a

1 tháng 5 năm 1941

 

 

 

Phụ
lục Н

 

Tỷ lệ phần trăm tổng lượng thương mại dùng để tính phần
trăm như đã quy định tại điều XXVI

(trung bình của thời
kỳ năm 1949-1953)

 

 

           
Nếu, trước khi Chính phủ Nhật bản tham gia Hiệp định Chung, Hiệp định này đã được
các bên ký kết có khối lượng thương mại như nêu tại cột 1 trổ tài mức phần
trăm thương mại xác nhận tại khoản 6 điều XXVI, cột 1 sẽ có giá trị để thi hành
quy định của khoản đã nêu. Nếu Hiệp định này không được chấp thuận như nêu trên
trước khi Chính phủ Nhật bản tham gia, cột II sẽ có giá trị để thi hành quy định
của khoản đã nêu.

 

 

(bên ký kết  1/3/ 1955)

(1/3/1955 và Nhật bản)

Úc

3,1

3,0

Áo

0,9

0,8

Bỉ-Lúc xăm bua

4,3

4.2

Miến-điện

0,3

0,3

Bra-sil

2,5

2,4

Canada

6,7

6,5

Xây-lan

0,5

0,5

Chi-lê

0,6

0,6

Cuba

1,1

1,1

Đan-mạch

1,4

1,4

Hoa kỳ

20,6

20,1

Phần-lan

1,0

1,0

Đức (Liên bang)

5,3

5,2

Pháp

8,7

8,5

Hy lạp

0,4

0,4

Ha-i-ti

0,1

0,1

ấn độ

2,4

2,4

In-đô-nê-si-a

1,3

1,3

Ι-ta li-a

2,9

2,8

Nicaragua

0,ɭ

 0,ɭ

Na-uy

1,1

1,1

Niu-di-lân

1,0

1,0

Pakistan

0,9

0,8

Hà lan

4,7

4,6

Pê-ru

0,4

0,4

Cộng hoà Đô-mi-níc

0,ɭ

0,ɭ

Rô-đê-di và Ny-a-sa-lan

0,6

0,6

Anh (Vương Quốc)

20,3

19,8

Thuỵ điển

2,5

2,4

Tiệp khắc

1,4

1,4

Thổ nhĩ kỳ

0,6

0,6

Liên minh Nam phi

1,8

1,8

Uruguay

0,4

0,4

Nhật bản

2,3

 

_____

_____

                                    
  

100,0

100,0

 

Ghi chú: các tỷ lệ trên được tính toán có tính đến thương mại của mọi
lãnh thổ mà Hiệp định chung có hiệu lực thi hành.


Phụ lục Ι

 

Ghi chú và
các quy định bổ sung

 

 

            Nghĩa
vụ nêu tại khoản trước hết điều khoản trước hết có tham chiếu khoản 2 và khoản 4
của điều III cũng như các nghĩa vụ nêu tại điểm 2 ɓ)  điều II có tham chiếu
điều VI sẽ được xem như là phòng ban của Phần II nhằm thực hiện Nghị định thư về việc
tạm thời ứng dụng Hiệp định chung.

 

            Những
tham chiếu tới các khoản 2 và 4 điều III, nêu trong khoản trên cũng như khoản đầu
tiên của điều khoản trước hết, sẽ chỉ được ứng dụng khi điều III đã được điều chỉnh
bằng việc điều chỉnh đã dự kiến tại Nghị định thư có nội dung sửa đổi phần II
và sửa đổi điều XXVI của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại ký ngày 14
tháng 9 năm 1948 (10) có hiệu lực.

 

 

            Thuật
ngữ “biên độ ưu đãi” được hiểu là sự khác biệt tuyệt đối giữa suất
thuế quan ứng dụng theo đãi ngộ tối huệ quốc – MFN và thuế suất ưu đãi ứng dụng với
cùng một sản phẩm, mà không phải tương quan giữa hai thuế suất. Lấy ví dụ:

 

1)    Nếu
thuế suất thuộc đãi ngộ tối huệ quốc – MFN là 36% trị giá tăng trưởng và thuế suất
theo đãi ngộ ưu đãi là 24% trị giá tăng trưởng, biên độ ưu đãi ở trường hợp này sẽ
là 12% trị giá tăng trưởng chứ không phải là một phần ba của đãi ngộ tối huệ quốc.

 

2)    Nếu
thuế suất thuế quan theo đãi ngộ tối huệ quốc – MFN là 36% và thuế suất ưu đãi
được ghi là hai phần ba của đãi ngộ tối huệ quốc, biên độ ưu đãi ở đây được hiểu
là 12% trị giá tăng trưởng.

 

3)    Nếu
thuế quan theo đãi ngộ tối huệ quốc – MFN ở mức 2,00FF trên một kg và thuế ưu
đãi là 1,5FF trên một kg, biên độ ưu đãi sẽ là 0.5FF trên một kg.

 

            Các
biện pháp hải quan sau đây, ứng dụng đúng theo thủ tục thống nhất đã định, sẽ
không được xem như là trái với cam kết mức biên độ ưu đãi tối đa:

 

ι)    
tái ứng dụng với một sản phẩm nhập khẩu một hạng mục phân loại thuế hay một thuế
suất thông thường ứng dụng với sản phẩm đó, trong những trường hợp việc ứng dụng 
mức phân loại hay thuế suất đó đã được tạm ngừng vào ngày 10 tháng 4 năm 1947;

 

ii)    
Phân loại một sản phẩm theo một dòng thuế khác với dòng thuế ứng dụng cho sản phẩm
đó vào ngày 10 tháng 4 năm 1947 trong trường hợp hệ thống lập pháp có quy định
rõ ràng rằng sản phẩm đó có thể được phân loại theo nhiều dòng thuế.

 

 

 

           
Việc tham chiếu tới khoản 2 điều III nêu tại khoản 2 α)  điều II chỉ được
ứng dụng khi điều III đã được sửa đổi với sự điều chỉnh đã dự kiến trong Nghị định
thư có nội dung sửa đổi Phần II và sửa đổi điều XXVI của Hiệp định chung về Thuế
quan và Thương mại GATT ký ngày 14 tháng 9 năm 1948 (11) đã có hiệu
lực.

 

 

           
Xem phần ghi chú về khoản trước hết của điều khoản trước hết.

 

 

           
Trừ khi có thoả thuận khác rõ ràng của các bên ký kết đã thương thảo các nhân nhượng
thuế quan ban đầu, các quy định của khoản 4 sẽ được ứng dụng có tính đến các quy
định của điều 31 Hiến chương Havana.

 

 

 

           
Mọi khoản thuế hay khoản thu nội địa hoặc mọi luật lệ, quy tắc hoặc quy định
nêu tại khoản trước hết, ứng dụng với sản phẩm nhập khẩu cũng tương tự sản phẩm nội
tương tự và được đánh -với sản phẩm nhập khẩu- vào lúc và tại nơi nhập khẩu
không vì vậy mà không được xem như là một khoản thuế hay khoản thu nội địa hoặc mọi
luật lệ, quy tắc hoặc quy định nêu tại khoản trước hết và do vậy sẽ chịu sự điều
chỉnh của các quy định của điều III.

 

 

           
Việc ứng dụng khoản trước hết vào thuế nội địa được các chính phủ hay chính quyền
địa phương của các lãnh thổ một bên ký kết ứng dụng được điều chỉnh bởi các quy
định của khoản cuối cùng điều XXIV. Thuật ngữ “các biện pháp hợp lý trong
quyền hạn của mình” không được hiểu, ví dụ, là buộc các bên ký kết lẩn
tránh nền lập pháp quốc gia đang cho phép các chính quyền địa phương quyền
được đánh những khoản thuế nội địa xét về hình thức thì trái với lời văn điều
khoản này mà về nội dung trong thực tiễn lại không trái với trí não điều khoản
đó, nếu sự lẩn tránh đó sẽ dẫn theo những khó khăn tài chính nặng nề cho
chính phủ và chính quyền địa phương liên quan. Với những khoản thuế do các
chính phủ và chính quyền địa phương thu trái với điều III cả về ngôn từ và tinh
thần, thuật ngữ “các biện pháp hợp lý trong quyền hạn của mình” cho
phép một bên ký kết triệt tiêu từng bước các khoản thuế này trong thời kỳ chuyển
đổi, nếu triệt tiêu ngay có thể gây ra những khó khăn về hành chính và tài
chính.

 

 

           
Một khoản thuế thoả mãn các quy định tại câu trước hết khoản 2 chỉ coi là không
tương thích với câu thứ hai trong trường hợp có sự đối đầu giữa một bên là sản
phẩm và bên kia là một sản phẩm đối đầu trực tiếp hay một sản phẩm có thể trực
tiếp thay thế nhưng lại không  phải chịu một khoản thuế tương tự.

 

 

           
Một quy tắc tương thích với các quy định của câu trước hết của khoản 5 sẽ không
được xem như là trái với các quy định tại câu thứ hai nếu  nước ứng dụng quy tắc
đó có sản xuất với số lượng đáng kể mọi sản phẩm và các sản phẩm đó đều phải chịu
khoản thuế đó. Không thể viện dẫn rằng trong lúc phân định những phần tỷ lệ hay
số lượng xác nhận cho mỗi sản phẩm chịu sự điều chỉnh của quy tắc, người ta đã
duy trì một tương quan thoả đáng giữa sản phẩm nhập khẩu và các sản phẩm nội địa,
để bảo vệ rằng một quy tắc đã thỏa mãn các quy định tại câu thứ hai.

 

 

           
Liên quan tới ngân sách vận tải, phép tắc nêu tại  khoản 5 ứng dụng với những
sản phẩm tương tự được vận tải cùng một lịch trình và trong những điều kiện
như nhau.

 

 

1.        
Việc các doanh nghiệp thông đồng bán phá giá (có nghĩa là nhà nhập khẩu bán
hàng với giá hàng tương ứng với giá ghi trên hoá đơn xuất khẩu của nhà xuất khẩu
có link với nhà nhập khẩu, và giá xuất khẩu đó vẫn thấp hơn giá thực tiễn tại
nước xuất khẩu) là một hình thức bán phá giá; với loại hình này, biên độ phá
giá có thể được tính toán dựa trên giá thành lại sản phẩm tại nước nhập khẩu.

 

2.        
Thừa nhận rằng trong trường hợp nhập khẩu từ một nước mà thương mại hoàn toàn
mang tính chất độc quyền hay hầu như độc quyền hoặc toàn thể giá trong nước do
Nhà nước định đoạt, việc xác nhận tính so sánh của giá thành nhằm mục đích nêu tại
khoản trước hết có thể có những khó khăn đặc biệt và trong những trường hợp đó,
các bên ký kết là bên nhập khẩu có thể thấy cần tính đến khả năng rằng việc so
sánh chúnh xác với giá thành trong nước của nước đó không phải lúc nào cũng thích
đáng.

 

 

1.        
Nguyên nhân là trong thực tiễn hải quan thường xảy ra việc một bên ký kết có thể đòi hỏi
có sự đảm bảo hợp lý (bảo lãnh hay đặt cọc bằng tiền để thanh toán thuế chống bán
phá giá hay thuế đối kháng trong lúc chờ kết quả điều tra cuối cùng theo thực tiễn,
khi nghi ngờ có bán phá giá hay trợ cấp.

 

2.        
Việc thực hành đa tệ trong một số trường hợp có thể dẫn theo trợ cấp cho xuất khẩu
và có thể là đối tượng đánh thuế đối kháng theo các điều khoản tại khoản 3, hay
tạo thành một hình thức bán phá giá thông qua chỉ phá giá  một phần đồng tiền
của một nước, và có thể là đối tượng đều chỉnh của các biện pháp nêu tại khoản
2. Thuật ngữ “thực hàmh đa tệ” nhằm vào những thực hành được chính phủ
ứng dụng hay chấp thuận cho ứng dụng.

 

 

           
Mọi sự khiển trách các quy định tại khoản 6 ɓ)  sẽ chỉ được xem xét theo của
bên ký kết có đề xuất đánh thuế chống bán phá giá hay thuế đối kháng.

 

 

           
Thuật ngữ “những khoản thuế khác” sẽ không được xem như là bao gồm cả những
khoản thuế nội địa hay thuế tương ứng thu vào thời điểm nhập khẩu hay liên quan
tới nhập khẩu.

 

 

1.        
Sẽ được xem như là thỏa mãn yêu cầu của điều VII khi tổng kết rằng “giá trị thực”
có thể trổ tài bằng giá ghi trên hoá đơn, có bổ sung mọi yếu tố tương ứng
chính đáng không tính trên giá ghi hoá đơn và thực sự tạo thành những kết cấu của
“giá trị thực”, cũng như mọi khoản hoa hồng không bình thường tính
theo giá thông thường đối đầu.

 

2.        
Một bên ký kết tuân thủ đúng điểm 2 ɓ)  điều VII khi hiểu thuật ngữ “theo
tiến trình  thương mại thông thường trong điều kiện đối đầu đầy đủ” như là ngoại trừ mọi giao dịch trong đó người
mua và người bán không độc lập với nhau và giá thành không phải là điều kiện duy
nhất.

 

3.        
Quy tắc “những điều kiện cạnh tranh đầy đủ” cho phép một bên ký kết
không xem xét giá thành trong đó gồm có những hoa hồng đặc biệt chỉ giành cho
các đại diện toàn quyền.

 

4.        
Nội dung cáđiểm α) và ɓ) cho phép các bên ký kết xác nhận trị giá thuế quan một
cách thống nhất hoặc 1) trên nền tảng giá của một nhà xuất khẩu tách biệt của
hàng nhập khẩu, hoặc 2) trên nền tảng tầm giá chung của các sản phẩm tương tự.

 

 

 

1.        
Trong lúc điều VIII không bao trùm việc sử dụng đa tỷ giá hối đoái theo đúng
nghĩa của nó, khoản 1 và khoản 4 lên án việc sử dụng phí và thu đánh vào tỷ giá
như là một dụng cụ để sử dụng đa tỷ giá. Tuy nhiên nếu một bên ký kết sử dụng
phí đa tỷ giá để thăng bằng cán cân thanh toán và đã được Quỹ tiền tệ quốc tế
chấp thuận, các quy định tại khoản  9(α) của Điều XV vẫn bảo vệ trọn vẹn
cho sự vận dụng của bên ký kết đó.

 

2.        
Sẽ được xem như là thích hợp các quy định của khoản 1 nếu khi hàng được nhập khẩu từ
lãnh thổ của một bên ký kết vào lãnh thổ của một bên ký kết khác, việc yêu cầu
xuất trình cấp chứng thực xuất xứ chỉ được  đưa ra ở mức thật sự thiết yếu.

 

 

 

           
Trong các Điều XI, XII, XIII, XIV và XVIII, các thuật ngữ “hạn chế nhập khẩu”
hay “hạn chế xuất khẩu” cũng nhằm vào các hạn chế được thi hành thông
qua các hoạt động của thương mại nhà nước.

 

 

 

            Thuật ngữ ” nhập khẩu dưới bất kể hình
thức nào “phải được hiểu là ứng dụng với
những sản phẩm như nhau, còn đang ở thời kỳ sơ chế ít, dễ hư hỏng, trực tiếp
đối đầu với những sản phẩm tươi sống và nếu các sản phẩm đó được tự do nhập
khẩu, có xu thế làm cho các hạn chế được ứng dụng với sản phẩm tươi sống mất
hiệu lực trong thực tiễn.

 

 

            Thuật ngữ “nhân tố đặc biệt” bao gồm sự
biến động năng xuất liên quan tới sản phẩm nội và ngoại, nhưng không phải sự biến
động nhân tạo liên quan tới những phương tiện khác mà hiệp định không chi phối.

 

 

           
Các Bên Ký Kết sẽ ứng dụng mọi biện pháp hữu ích để đảm nói rằng các cuộc tham vấn
tiến hành theo quy định của điều khoản này được đảm bảo bí mật.

 

 

            Các bên ký kết đang ứng dụng những hạn chế có nghĩa
vụ nỗ lực tránh gây ra tổn hại nặng cho xuất khẩu một sản phẩm sơ cấp mà nền
kinh tế cuả một bên ký kết phụ thuộc nhiều.

 

 

           
Thoả thuận rằng ngày đó sẽ nằm trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày những điều chỉnh
của điều khoản này nêu trong Nghị định thư có nội dung điều chỉnh khoản mở màn
và các Phần II và  III của Hiệp định này khởi đầu có hiệu lực. Tuy nhiên, nếu
Các Bên Ký Kết cho rằng trong những điều kiện vào thời điểm dự kiến không thích
phù hợp với ứng dụng  các quy định của điều khoản này, Các Bên có thể định ra một
ngày trong tương lai sau đó; tuy nhiên ngày mới xác nhận này phải nằm trong
vòng 30 ngày kể từ cuối thời hạn mà nghiã vụ nêu tại mục 2, 3, 4 điều VIII Điều
lệ Quỹ Tiền Tệ Quốc tế (IMF) quy định được ứng dụng cho các bên ký kết là Thành
viên của Quỹ có tổng khối lượng thương mại của họ chiếm tối thiểu là một nửa tổng
khối lượng thương mại của các bên ký kết.

 

 

           
Được thoả thuận là đọan 4 α) không đưa ra thêm chỉ thức nào cho việc định ra
hay duy trì các hạn chế số lượng nhằm bảo lãnh thăng bằng cán cân thanh toán. ở
đây chỉ đảm nói rằng khi mọi nhân tố bên ngoài như là những thay đổi trong điều
kiện, điều khoản trao đổi thương mại hạn chế số lượng, thuế quan quá cao và trợ
cấp là những nhân tố có thể góp phần làm mất thăng bằng cán cân thanh toán của
bên ký kết đang ứng dụng hạn chế được tính toán đến một cách đầy đủ.

 

 

           
Các bên đã không chấo nhận sự xem xét mang tính chất thương mại như là một chỉ
tiêu phân bổ hạn nghạch, bởi vì không phải lúc nào các chính phủ cũng có thể dựa
vào những nhận xét này. Mặc khác, trong những trường hợp có thể vận dụng cách
làm này, một bên ký kết có thể vận dụng tiêu thức này khi cần đạt đến một thỏa
thuận, phù phù hợp với quy tắc chung nêu tại câu trước hết khoản 2.

 

 

           
Xem bị chú về các “nhân tố đặc biệt”, liên quan tới tiểu khoản cuối
cùng khoản 2 điều Ι.

 

 

           
Các quy định của khoản này sẽ không được hiểu như là ngăn cản Các Bên Ký Kết,
trong quá trình tham vấn dự kiến tại khoản 4 của điều XII và tại khoản 2 điều
XVIII, tính toán đầy đủ đến tính chất, các thúc đẩy và nguyên nhân của mọi sự phân biệt
trong hạn chế nhập khẩu.

 

 

           
Một trong các trường hợp đã tính đến tại điều 2 là trường hợp một bên ký kết có
nguồn tín dụng, sau một hoạt động thương mại thông thường, nhưng sẽ không thể sử
dụng được nếu không vận dụng biện pháp phân biệt đối xử.

 

 

 

 

           
Các thuật ngữ “(có thể) trái với” trước hết có ý nghĩa rằng các biện
pháp kiểm tra ngoại hối sẽ có thể trái với lời văn của một điều khoản trong Hiệp
định này nếu không đi chệch quá  nhiều với trí não của Hiệp định sẽ
không bị coi là vi phạm Hiệp định này. Như vậy, một bên ký kết chiểu theo nội
dung một trong những biện pháp kiếm soát ngoại hối được ứng dụng đúng theo Điều
lệ của Quỹ Tiền Tệ Quốc tế (IMF) quy định hàng xuất khẩu được thanh toán bằng nội
tệ hoặc bằng đồng tiền của một trong những đồng tiền của một Nhà nước thành
viên của Quỹ sẽ không vì vậy bị coi gây trở ngại với việc thực hiện các quy định
của điều XI và điều XIII. Ta có thể lấy ví dụ trường hợp một bên ký kết ghi trong
giấy phép nhập khẩu hàng hoá được phép nhập từ nước nào, không hề nhằm vào phân
biệt đối xử trong việc chứng nhận nhập khẩu mà  nhằm thực hiện các biện pháp
được phép tiến hành trong quản lý ngoại hối.

 

 

           
Việc miễn cho một sản phẩm xuất khẩu những khoản thuế đánh vào sản phẩm tương tự
được tiêu dùng nội địa hay việc hoàn trả các khoản thuế nhưng không vượt quá mức
thuế phải hay đã nộp sẽ không bị coi là một khoản trơ cấp

 

1.        
Không một quy định nào của điểm Ɓ ngăn cản một bên ký kết ứng dụng đa tỷ giá phù
phù hợp với Điều lệ của Quỹ Tiền Tệ Quốc tế.

 

2.        
Để ứng dụng điểm Ɓ, thuật ngữ “sản phẩm sơ cấp” được hiểu là bao gồm
nông sản, lâm sản, sản phẩm nghề cá và mọi khoáng sản, dù này là một sản phẩm dưới
dạng tự nhiên hay đã qua sơ chế mà thương mại quốc tế đòi hỏi phải giao dịch
với số lượng lớn.

 

 

1.        
Việc một bên ký kết trước đó không xuất khẩu một sản phẩm được đề cập đến ở
khoản này không làm mất quyền của bên ký kết đó có được một phần trong thương mại
sản phẩm này.

 

2.        
Một hệ thống nhằm vào hoặc ổn định giá thành một sản phẩm sơ cấp trong nước, hoặc ổn
định thu nhập của các nhà sản xuất trong nước sản phẩm đó, độc lập với giá thành
xuất khẩu- việc đó có lúc dẫn theo việc một sản phẩm được xuất khẩu với giá thấp
hơn so với giá có thể so sánh thực hành với người mua trên thị trường nội địa,
sản phẩm tương tự sẽ không được xem như là một hình thức trợ cấp xuất khẩu theo
nghĩa của khoản 3, nếu Các Bên Ký Kết xác nhận được:

 

          
Không phụ thuộc vào sự xác nhận của Các Bên Ký Kết về vấn đề này, các biện pháp
phát sinh trong thực hiện một hệ thống như vậy sẽ được xét theo quy định của
khoản 3 khi nguồn tài trợ được nhà sản xuất sản phẩm đó đóng góp một phần hay
toàn thể, ngoài sự đóng góp của các nhà sản xuất các sản phẩm đó.

 

α)        
rằng hệ thống đó cũng dẫn theo hay được lập ra theo phương pháp để đạt tới sản phẩm này
được bán xuất khẩu với giá chát hơn giá thực hành với người mua trên thị trường
nội địa, sản phẩm tương tự;

 

ɓ)        
và rằng hệ thống đó khi được vận dụng thực tiễn với sản xuất, hay vì bất kỳ một
nguyên nhân nào khác, được ứng dụng hay lập ra theo cách không phải là để khuyến khích
xuất khẩu một cách không chính đáng hay không dẫn theo sự tổn hại nghiêm trọng
nào với quyền lợi của các bên ký kết khác.

 

           

 

           
Đối tượng của khoản 4 là làm cho các bên ký kết nỗ lực đạt được một thoả thuận
chậm nhất là cuối năm 1957 để đến ngày 1 tháng 1 năm 1958 loại bỏ mọi khoản trợ
cấp vẫn còn tồn tại hoặc nếu không đạt được một thoả thuận như vậy cũng đạt được
một thoả thuận về việc tiếp tục duy trì tình trạng cho tới một ngày gần nhất
trong tương lai, với trông mong đạt được một thoả thuận như vậy.

 

 

           
Hoạt động của các văn phòng giao dịch thương mại, hoạt động mua bán được các
bên ký kết thành lập chịu sự điều chỉnh của các quy định nêu tại các tiểu khoản
α) và ɓ).

 

           
Hoạt động của các văn phòng giao dịch thương mại được các bên ký kết thành lập,
không hoạt động mua bán, nhưng có định ra những quy tắc ứng dụng với thương mại
tư nhân, chịu sự điều chỉnh của các quy  định thích hợp của Điều khoản
này.

 

           
Các quy định của Điều khoản này không ngăn cản một doanh nghiệp Nhà nước bán một
sản phẩm với gíá khác nhau trên những thị trường khác nhau, với điều kiện thực
hành như vậy chỉ dựa vào những nguyên nhân thương mại, để đáp ững tương quan cung-cầu
trên thị trường xuất khẩu.

 

                       

           
Những biện pháp được chính phủ ứng dụng nhằm đảm bảo tôn trọng những kpi chất
lượng và năng xuất nhất định trong hoạt động thương mại, hoặc còn vì những đặc
quyền trong khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên quốc gia, nhưng không cho
phép chính phủ kiểm tra các hoạt động thương mại của doanh nghiệp đó sẽ không
được xem như là “độc quyền hay đặc quyền thương mại”.

 

 

           
Một bên ký kết được hưởng một “khoản vay đặc biệt?” có quyền được sử
dụng khoản tiền vay này theo “đánh giá thương mại” khi sắm sửa sản phẩm
từ nước ngoài.

 

 

           
Các thuật ngữ “sản phẩm” và “hàng hoá” chỉ ứng dụng với sản
phẩm theo nghĩa của các thuật ngữ này trong thực hành thương mại và không được
hiểu là ứng dụng với việc mua hay đặt phân phối dịch vụ.

 

 

           
Các cuộc thương thảo được các bên ký kết chấp thuận tiến hành, phù phù hợp với nội dung
khoản này, có thể là thương thảo về giảm thuế và các khoản thu khác với nhập khẩu
và xuất khẩu hay về việc ký kết một thoả thuận nào khác thoả đáng với các bên
và phù phù hợp với các quy định của Hiệp định này. (xem khoản 4 của điều II và phần
ghi chú liên quan tới khoản này).

 

 

           
Thuật ngữ “nâng giá nhập khẩu” tại khoản này chỉ phần kết cấu trong
giá tại cảng xếp hàng được đơn vị độc quyền nhập khẩu nâng lên trong xác lập
giá căn cứ cho nhu cầu về sản phẩm liên quan (ngoại trừ các khoản thuế trong nước
thuộc nội dung điều III, giá thành vận tải và phân phối cũng như các ngân sách
khác gắn với việc bán, mua hay sơ chế thêm và một biên độ lãi hợp lý).

 

 

           
Các Bên Ký Kết và các bên ký kết liên quan sẽ tuân thủ việc đảm bảo bí mật cao
nhất với mọi vấn đề đưa ra theo tại Điều khoản này.

 

1.        
Khi Các Bên Ký Kết xem xét việc nền kinh tế của một bên ký kết “chỉ có thể
đảm bảo một mức sống thấp”, Các Bên sẽ xem xét đến vị trí thông thường của
nền kinh tế đó chứ không ra xác nhận trên nền tảng những hoàn cảnh ngoại lệ chẳng
hạn như những hoàn cảnh là kết quả của những điều kiện đặc biệt thuận tiện cho
việc xuất khẩu một sản phẩm hay nhiều sản phẩm chính xuất khẩu của nền kinh tế
này.

 

2.        
Câu “trong thời kỳ đầu phát triển” không chỉ hàm ý ứng dụng với các
bên ký kết mới chỉ vừa khởi đầu thời kỳ phát triển kinh tế mà cũng ứng dụng với
các bên ký kết có nền kinh tế đang trên một tiến trình công nghiệp hoá để khắc
phục sự phụ thuộc thái quá vào sản xuất sản phẩm sơ chế.

 

 

           
Khái niệm tạo lập một nghề sản xuất xác nhận nói đến ở đây không chỉ nhằm vào
việc lập nên một nghề sản xuất mới mà cả tạo lập một  nghề sản xuất
trong khuôn khổ một nghề sản xuất đang tồn tại, và phát triển thêm một bước
đáng kể một nghề đang tồn tại nhưng hiện chỉ thoả mãn được nhu cầu trong nước ở
mức thấp. Khái niệm cũng nhằm vào việc xây dựng lại một nghề sản xuất đã bị huỷ
hoại hay tổn thất đáng kể do những hành động thù địch hay thiên tai.

 

 

           
Mọi sự sửa đổi hay rút bỏ, theo khoản 7b), được một bên ký kết không phải là
bên ký kết đòi hỏi ứng dụng, như nêu tại khoản 7a)  phải khởi đầu trong vòng
6 tháng kể từ ngày bên ký kết đòi hỏi thực thi biện pháp của mình, sự điều chỉnh
hay rút bỏ đó sẽ có hiệu lực sau 30 ngày kể từ ngày Các Bên Ký Kết thu được
thông báo về việc đó.

 

 

           
Câu thứ hai của khoản 11 sẽ không được hiểu là buộc một bên ký kết phải giảm bớt
hay loại bỏ các hạn chế nếu việc giảm bớt hay loại bỏ lại minh chứng cho một
tình huống cần tăng cường hay lập ra, tuỳ từng trường hợp, các hạn chế theo khoản
9 của điều XVIII.

 

 

           
Ngày nêu tại khoản 12 ɓ) sẽ là ngày được Các Bên Ký Kết định ra phù phù hợp với các
quy định của khoản 4 ɓ) điều XII của Hiệp định này.

 

 

           
Thừa nhận rằng trước khi mang ra một biện pháp và thông báo biện pháp đó cho Các
Bên Ký Kết, theo đúng quy định của khoản 14, một bên ký kết có thể cần phải có thời
gian nhất định để xác nhận tình trạng của nghề sản xuất liên quan, dưới cách
nhìn đối đầu.

 

 

           
Thoả thuận rằng Các Bên Ký Kết sẽ mời một bên ký kết có đề xuất ứng dụng biện
pháp theo mục ₵ cùng tham vấn phù phù hợp với các quy định tại khoản 16, khi bên ký
kết có nền thương mại chịu ràng buộc đáng kể của biện pháp nói đến ở đây có yêu
cầu.

 

 

1.        
Thoả thuận rằng Các Bên Ký Kết có thể chấp thuận một biện pháp đã dự kiến với bảo
lưu theo các điều kiện hay các hạn chế đã được Các Bên nêu ra, Nếu biện pháp
được ứng dụng không tuân thủ những dự kiến  được chấp thuận, sẽ được xem như là
biện pháp không được Các Bên Ký Kết cho phép trong khuôn khổ hoàn cảnh dẫn tới 
chấp thuận biện pháp đó. Nếu Các Bên Ký Kết đã chấp thuận một biện pháp trong một
thời gian xác nhận, nhưng bên ký kết liên quan thấy rằng cần duy trì biện pháp
đó thêm một thời gian để thực hiện mục tiêu đã đề ra ban đầu, bên ký kết đó có
thể đề xuất Các Bên Ký Kết kéo dài thời gian, phù phù hợp với các quy định và thủ tục
tại khoản ₵ và 𝓓, tuỳ từng trường hợp.

 

2.        
Thông thường Các Bên Ký Kết sẽ tự kiềm chế khi phản hồi trước yêu cầu cho phép áp
dụng một biện pháp có khả năng dẫn tới tổn hại nghiêm trọng đến xuất khẩu một sản
phẩm mà nền kinh tế của một bên ký kết đang phụ thuộc nhiều.

 

 

           
Sử dụng khoản “và quyền lợi của các bên ký kết khác đã được bảo vệ
đúng mức ” nhằm tạo ra một quyền hành động
đủ để xem xét xem trong mỗi trường hợp phương pháp nào thích thống nhất để bảo vệ
các quyền lợi này. Ví dụ phương pháp thích thống nhất đó có thể mang hình thức
bên ký kết đã vận dụng các quy định của mục ₵ hay mục 𝓓 giành cho một nhân nhượng
bổ sung trong thời kỳ các biện pháp trái với các quy định của Hiệp định này có
hiệu lực, hoặc bất kỳ bên ký kết nào khác nêu tại khoản 18 sẽ tạm ngừng một nhân
nhượng đáng kể tương ứng với tổn hại do việc ứng dụng biện pháp đã nêu trên gây
ra. Bên ký kết đó sẽ có quyền bảo lãnh những quyền lợi của mình bằng cách tạm thời
ngừng ứng dụng một nhân nhượng; tuy nhiên, chỉ thực thi quyền này khi, trong trường
hợp một biện pháp được một bên ký kết ứng dụng trong khuồn khổ điểm α) khoản 4
được Các Bên Ký Kết xác nhận có mức bù đắp không thoả đáng.

 

 

           
Các quy định của khoản 19 được ứng dụng trong trường hợp một nghề sản xuất vẫn
tiếp tục tồn tại quá một “thời hạn hợp lý” đã nêu trong bị chú liên
quan tới khoản 13 và 14; các quy định này không được hiểu là tước bỏ quyền của
một bên ký kết đang trong diện nêu tại điểm α) khoản 4 điều XVIII quyên 
được vận dụng các quy định khác của mục ₵, kể cả các quy định của khoản 17, nói
về một nghề sản xuất mới được thành lập, cho dù nghề này đã được hưởng sự bảo
hộ phụ trợ nhờ sự hạn chế nhập khẩu nhằm bảo vệ cán cân thanh toán.

 

 

           
Mọi biện pháp được ứng dụng theo trí não của khoản 21 sẽ được rút bỏ ngay lập
tức nếu các biện pháp đã được ứng dụng theo các quy định của khoản 17 cũng từng được
rút bỏ hoặc Các Bên Ký Kết đã tán đồng với biện pháp đã dự kiến sau thời hạn
90 ngày đã nêu tại khoản 17.

 

 

           
Ngoại lệ nêu tại điểm này được mở rộng ra mọi sản phẩm nền tảng phù phù hợp với các
phép tắc đã được Hội đồng kinh tế và xã hội thông qua trong nghị quyết số 30
(IV) ngày 28 tháng 3 năm 1947.

 

 

 

           
Thoả thuận rằng, căn cứ vào các quy định của điều khoản đẩu tiên, khi một sản
phẩm đã được nhập khẩu vào lãnh thổ của một liên minh quan thuế hay khu vực mậu
dịch tự do với thuế suất ưu đãi được tái xuất khẩu vào lãnh thổ một thành viên
khác của liên minh hay khu vực đó, thành viên này phải thu thêm một khoản thuế
bằng mức chênh lệch giữa thuế đã thu và thuế suất cao nhất lẽ ra phải đánh vào
sản phẩm khi sản phẩm được nhập khẩu trực tiếp vào lãnh thổ của mình.

 

 

           
Khi các hiệp định thương mại chính thức được ký kết giữa ấn độ và Pa-ki-xơ-tan,
các biện pháp có thể được các nước này ứng dụng nhằm thực hiện các hiệp định này
có thể trái với một số điều khoản thuộc Hiệp định này nhưng không được trái với
mục tiêu của Hiệp định.

 

 

            Các Bên Ký Kết và bất kỳ bên ký kết nào liên quan
phải có những quy định thiết yếu để đảm bảo bí mật cao nhất trong quá trình đàm
phán và tham vấn, nhằm tránh để những thông tin liên quan tới điều chỉnh thuế
quan dự kiến cho thời kỳ sắp tới bị tiết lộ khi chưa chín muồi. Các Bên Ký Kết
sẽ phải được thông tin ngay về mọi sửa đổi có thể được một bên ký kết thực hiện
với biểu thuế của mình, là kết quả của việc thực hiện theo các quy định của Điều
khoản này.

 

 

1.        
Nếu Các Bên Ký Kết định một thời kỳ khác không phải là thời kỳ 3 năm, bất kỳ
bên ký kết nào có thể vận dụng các quy định của khoản đầu của hay khoản 3 điêù
khoản XXVIII kể từ ngày tiếp theo ngày cuối cùng cuả thời kỳ khác nói trên, và
trừ khi Các Bên Ký Kết lại không định một thời kỳ khác, mọi thời kỳ tiếp theo của
một thời kỳ khác được định ra như nêu ở đây sẽ là thời kỳ 3 năm.

 

2.        
Quy định nói rằng ngày 1 tháng 1 năm 1958 và kể từ những ngày khác được xác nhận
phù phù hợp với khoản trước hết một bên ký kết “có thể sửa đổi hay rút bỏ một
nhân nhượng” phải được hiểu là vào ngày này và kể từ ngày trước hết 
tiếp theo ngày cuối cùng của mỗi thời kỳ nghĩa vụ pháp lý được điều II áp đặt với
bên ký kết đó sẽ được sửa đổi; quy định này không có nghĩa là các sửa đổi với
biểu thuế suất nhất thiết phải có hiệu lực kể từ ngày này. Nếu việc ứng dụng các
điều chỉnh thuế suất, kết quả của các cuộc thương thảo tiến hành theo điều XXVIII,
được lùi lại, sự đền bù cũng có thể được chậm thực thi.

 

3.        
Dài  nhất là sáu tháng và ngắn nhất là ba tháng trước ngày 1 tháng 1 năm
1958 hoặc trước ngày kết thúc một thời kỳ tiếp theo kể từ ngày đó, bên ký kết
có đề xuất điều chỉnh hoặc rút bỏ một nhân nhượng thuộc Biểu tương ứng sẽ phải
thông báo ý định cho Các Bên Ký Kết biết. Khi đó Các Bên Ký Kết sẽ xác nhận bên
ký kết hay các bên ký kết nào sẽ tham gia thương thảo hay tham vấn như nêu tại khoản
trước hết. bất kỳ bên ký kết nào đã được xác nhận như trên sẽ tham gia vào các
cuộc thương thảo đó hoặc tham vấn với bên ký kết có yêu cầu để đạt tới một thoả
thuận trước khi kết thúc thời kỳ đó. Mọi sự gia hạn sau này của thời kỳ củng cố
các Biểu nhằm vào các Biểu đã được các cuộc thương thảo điều chỉnh, phù phù hợp với
khoản trước hết, khoản 2 và 3 của điều XXVIII. Nếu Các Bên Ký Kết có quy định
các cuôc thương thảo được tiến hành trong sáu tháng trước ngày 1 tháng 1 năm 1958
hoặc trước bất kể ngày nào được định ra theo Điều trước hết, tại quy định đó Các
Bên sẽ phải dự kiến khắc phục thoả đáng các cuộc thương thảo nêu tại khoản này.

 

4.        
Các quy định dự kiến việc không chỉ các bên ký kết đã thương thảo ban đầu về một
nhân nhượng mà cả bất kỳ bên ký kết nào liên quan như là nhà sản xuất chính là
nhằm đảm bảo cho một bên ký kết sau này có thể nắm giữ được một thị phần trong
thương mại  một sản phẩm đã là đối tượng thương thảo nhân nhượng to hơn thị
phần của bên ký kết đã tham gia thương thảo ban đầu, có thể thực sự bảo vệ quyền lợi
của mình theo Hiệp định chung. Trái lại, vấn đề không phải là mở rộng thương thảo
theo phương pháp để tạo ra những khó khăn không thiết yếu cho thương thảo và đạt tới những
thoả thuận như nêu tại điều XXVIII. cũng không phải để làm phức tạp thêm trong
tương lai khi ứng dụng điêù khoản này với những nhân nhượng đạt được tại các cuộc
thương thảo được tổ chức phù phù hợp với điều khoản đó. Do vậy, Các Bên Ký Kết chỉ thừa
nhận quyền lợi của một bên ký kết như là bên ký kết chính nếu bên đó nắm giữ một
thị phần, trên thị trường của bên ký kết có yêu cầu- trong một thời kỳ hợp lý
trước khi diễn ra thương thảo, to hơn thị phần của một bên ký kết đã tham gia đàm
phán ban đầu, hoặc lẽ ra đã có thị phần to hơn nếu không bị bên ký kết có yêu
cầu ứng dụng những hạn chế số lượng một cách phân biệt đối sử. Do vậy, sẽ không
thích đáng nếu Các Bên Ký Kết thừa nhận quá một bên ký kết, hoặc giả khi có hai
bên ký kết có vị trí hầu như ngang bằng nhau, thì không quá hai bên ký kết là
nhà sản xuất chính.

 

5.        
Không phụ thuộc vào khái niệm quyền lợi nhà sản xuất chính nêu tại bị chú 4
liên quan tới khoản trước hết, Các Bên Ký Kết có thể xác nhận như là một ngoại lệ
rằng một bên ký kết có quyền lợi như là nhà sản xuất chính nếu nhân nhượng đó
thúc đẩy đến hoạt động thương mại chiếm một phần trọng yếu trong xuất khẩu của
bên ký kết đó.

 

6.        
Các quy định về việc bất kỳ bên ký kết nào có quyền lợi như là nhà sản xuất
chính tham gia thương thảo và việc bất kỳ bên ký kết nào có quyền lợi đáng kể với
nhân nhượng mà bên ký kết đòi hỏi đề xuất điều chỉnh hay rút bỏ tham gia tham vấn
sẽ không được dẫn theo bắt buộc bên ký kết đòi hỏi phải chấp thuận một sự đền bù
to hơn và phải chịu sự trả đũa nghiêm khắc hơn là việc rút bỏ hay điều chỉnh
đã mang ra, căn cứ vào điều kiện thương mại vào thời điểm sự rút bỏ hay sửa đổi
đó được mang ra và có tính đến các hạn chế số lượng mang tính phân biệt đối sử
được bên ký kết có yêu cầu ứng dụng.

 

7.        
Thuật ngữ “quyền lợi đáng kể” không có khái niệm chuẩn xác; do vậy,
thuật nghữ có thể gây khó khăn cho Các Bên Ký Kết. Tuy nhiên cần hiểu thuật ngữ
này như là chỉ nói đến các bên ký kết đang nắm giữ hoặc lẽ ra sẽ có thể nắm giữ,
nếu không có các hạn chế số lượng mang tính chất phân biệt đối xử làm tổn hại đến
xuất khẩu của các bên ký kết đó, một thị phần đáng kể trên thị trường của bên
ký kết mang ra đề xuất sửa đổi hay rút bỏ nhân nhượng.

 

 

1.         Mọi đề xuất được tham
dự thương thảo phải kèm theo mọi số liệu và thông số kỹ thuật thiết yếu. Trong vòng 30 ngày
kể từ ngày nộp  đề xuất, Các Bên Ký Kết sẽ có quyết định về việc này.

 

2.         Thừa nhận rằng, nếu
ta cho phép một số bên ký kết có mức phụ thuộc cao vào một số lượng tương đối
ít các sản phẩm nền tảng và trông đợi rất nhiều vào vai trò của thuế quan để phong phú
hoá nền kinh tế và tạo nguồn thu tài chính,chỉ thương thảo bình thường nhằm sửa đổi
hay rút bỏ nhân nhượng theo quy định của khoản trước hết, điều XXVIII, ta có thể
qua đó kích thích họ tiến hành sửa đổi hay rút bỏ, xét về lâu dài lại vô tác dụng.
Để tránh tình trạng đó và căn cứ vào khoản 4 điều XXVIII, Các Bên Ký Kết sẽ cho
phép các bên ký kết nói trên tham gia thương thảo, trừ khi họ cho rằng thương thảo như
vậy sẽ dẫn tới tăng mức thuế quan hoặc góp phần là tăng mức thuế quan một cách
đáng kể và sẽ dẫn tới xáo trộn sự ổn định của các danh sách thuộc phụ lục của Hiệp
định này và làm xáo trộn thương mại quốc tế một cách không thiết yếu.

 

3.         Dự kiến rằng các cuộc
thương thảo được phép tiến hành phù phù hợp với khoản 4 nhằm sửa đổi hay rút bỏ một
dòng thuế hay một nhóm rất hạn chế những dòng thuế có thể tiến hành thành công
trong vòng 60 ngày. Tuy nhiên, thừa nhận rằng thời hạn 60 ngày sẽ không đủ cho
thương thảo về sửa đổi hay rút bỏ một số lượng nhiều dòng thuế hơn; trong trường hợp
này, Các Bên Ký Kết sẽ có nghĩa vụ xác nhận một thời hạn dài hơn.

 

4.         Sự xác nhận thuộc
trách nhiệm của Các Bên Ký Kết đã dự kiến tại khoản 4 {d})  điều XXVIII sẽ
phải được tổng kết trong vòng 30 ngày tiếp theo ngày vấn đề được đưa ra, trừ
khi bên ký kết đòi hỏi chấp thuận một thời hạn dài hơn.

 

5.         Thoả thuận rằng khi
đi đến xác nhận như đã nêu, phù phù hợp với khoản 4 {d})  điều XXVIII, nếu bên
ký kết có yêu cầu vẫn chưa làm hết những gì hợp lý và có thể làm được để mang ra
một sự bù đắp thoả đáng, Các Bên Ký Kết sẽ tính đúng mức đến tình huống đặc biệt
của một bên ký kết đã cam kết mức thuế trần rất thấp với chiếm một tỷ trọng lớn
trong thuế quan của mình và do vậy bên ký kết đó không có điều kiện rộng rãi
như các bên ký kết khác để mang ra một đề xuất về đền bù.

 

 

            Thoả
thuận rằng việc đề cập đến nhu cầu về tài chính trước hết nhằm nói tới khía cạnh
tài chính của thuế quan và riêng về thuế quan có tác dụng đảm bảo nguồn thu thuế,
đánh vào nhập khẩu các sản phẩm có thể được những sản phẩm khác có mức thuế
quan rất thấp hay không phải chịu thuế quan thay thế.

 

 

 

            Lời
văn của khoản trước hết không chiểu đến các chương VII và VIII của Hiến chương
Havana, do vì các chương này chỉ quy định những nét chung liên quan tới tổ chức,
vai trò và thủ tục của Tổ chức Thương mại Quốc tế.

 

 

            Các
thuật ngữ “bên ký kết phát triển” và “bên ký kết kém phát triển
hơn” được sử dụng trong Phần IV nhằm chỉ các nước phát triển và các nước
kém /chậm phát triển là thành viên của hiệp định Chung về Thuế quan va Thương mại-GATT.

 

 

            Điều
khoản này dựa trên các mục tiêu đã được nêu lên tại Điêu khoản trước hết với những
sửa đổi tại điểm 𝓐) của khoản trước hết Nghị định thư sửa đổi Phần 1 và các Điều
XXIX và XXX kể từ khi Nghị định Thư này có hiệu lực.12

 

 

            Thuật
ngữ “sản phẩm sơ cấp” bao trùm nông sản; xem khoản 2 của bị chú thích
thích về điểm Ɓ điều khoản XVI.

 

 

            Một
chương trình phong phú hoá thông thường bao gồm sự đẩy mạnh các hoạt đông sơ chế
các sản phẩm sơ cấp và phát triển các nghề thuộc khu vực chế tạo, có xem xét
đến vị trí của bên ký kết đó và viễn tượng sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm
khác nhau trên toàn cầu.

 

 

            Thoả
thuận rằng thuật ngữ “không chờ đợi sự tương hỗ” có nghĩa rằng, thích hợp
với các mục tiêu nêu tại điêù khoản này, không trông đợi ở một bên ký kết kém
phát triển hơn có sự đóng góp không tương thích với các nhu cầu của sự phát triển,
của nền tài chính và thương mại của mình trong tiến trình thương thảo thương mại,
có tính đến sự tiến triển của thương mại của bên ký kết đó trong thời gian qua.

 

            Khoản
này được ứng dụng trong trường hợp các biện pháp được ứng dụng căn cứ vào điểm 𝓐
điều XVIII, điều XXVIII, điều XVIII Ɓ (sau này trở thành điều XXIX khi sự điều
chỉnh thuộc điểm 𝓐 khoản trước hết của Nghị định thư sửa đôỉ phần Ι và các điều
khoản XXIX và XXX 13), điều XXXIII, hoặc theo bất kỳ thủ tục nào được lập ra
phù phù hợp với Điều khoản này.

 

 

            Khoản
này sẽ ứng dụng trong thương thảo nhằm giảm hay triệt tiêu thuế quan hoặc các quy tắc
hạn chế thương mại khác theo trí não, Điều XXVIII, Điều XVIII Ɓ (sau này trở
thành Điều XXIX khi sự điều chỉnh thuộc điểm 𝓐 khoản trước hết của Nghị định thư
sửa đôỉ Phần Ι và các Điều XXIX và XXX 13), Điều XXXIII, và trong mối liên hệ với
mọi hành động khác có thể được một bên ký kết ứng dụng nhằm thực thi việc giảm
hay triệt tiêu như vậy.

 

 

            Các
biện pháp khác nói đến tại khoản này có thể bao gồm các quy định rõ ràng nhằm
xúc tiến sự sửa đổi cơ cấu nội bộ, khích lệ tiêu thụ những sản phẩm tách biệt,
hoặc kiến lập những biện pháp xúc tiến thương mại.

 

 

 

 


[1]  – Bên ký
kết

   
– Các bên ký kết1

   
– Các Bên Ký Kết: (theo quy định của Điều XXV)

 


Xem thêm những thông tin liên quan đến đề tài gatt là gì

Episode 37: GATT/WTO

  • Tác giả: mjmfoodie
  • Ngày đăng: 2010-04-14
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 9828 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Just α quick overview of the history of GATT (General Agreement on Tariffs and Trade), which eventually became the WTO (World Trade Organization).

    “Episode 37: GATT/WTO” by Dr. Mary Ĵ. McGlasson is licensed under α Creative Commons Attribution-NonCommercial-NoDerivs 3.0 Unported License.

Hiệp Định Chung Về Thuế Quan Và Thương Mại( Gatt Là Gì, Hiệp Định Chung Về Mậu Dịch Và Thuế Quan Là Gì

  • Tác giả: vuialo.net
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 8288 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (tiếng Anh: General Agreement on Tariffs and Trade, viết tắt: GATT-94)Hiệp định chung về thuế quan và thương mại, hay thường hay gọi là hiệp định GATT-94 được xây dựng theo phép tắc của mô hình ba cấp, bao gồm:Hiệp định GATT-94 được khởi đầu bằng phép tắc cơ bản: thương mại không phân biệt đối xử, Các hiệp định bổ sung và các phụ lục bao gồm các điều khoản đặc biệt liên quan đến những nghề hoặc những vấn đề chuyên biệt

Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT-94) là gì?

  • Tác giả: vietnambiz.vn
  • Nhận xét: 3 ⭐ ( 4659 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (tiếng Anh: General Agreement on Tariffs and Trade, viết tắt: GATT-94) được xây dựng theo phép tắc của mô hình ba cấp.

GATT là gì? -định nghĩa GATT

  • Tác giả: www.abbreviationfinder.org
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 3470 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Xác minh trực tuyến cho những gì là GATT, ý nghĩa của GATT, và khác viết tắt, từ viết tắt, và từ đồng nghĩa.

Gatt Là Gì – Hiệp Định Chung Về Thuế Quan Và Thương Mại

  • Tác giả: truonggiathien.com.vn
  • Nhận xét: 3 ⭐ ( 6389 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Hiệp định chung về Mậu dịch và Thuế quan (General Agreement on Tariffs and Trade – GATT) là tổ chức đa quốc gia được thành lập năm 1947 để đẩy nhanh sự phát

Sự khác biệt giữa hiệp định Gatt và WTO 2022

  • Tác giả: sukhacnhau.com
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 2043 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: không nhiều người biết rằng, WTO được thành lập dựa trên hiệp định Gatt. Vậy thì hiệp định Gatt là gì và sự khác biệt của Gatt với WTO là gì

GATT là gì?

  • Tác giả: www.dankinhte.vn
  • Nhận xét: 3 ⭐ ( 5555 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm:

Xem thêm các nội dung khác thuộc thể loại: Thủ thuật máy tính

By ads_php