Bạn đang xem: hình ảnh nghệ thuật trừu tượng

Bức tranh trừu tượng màu nước trước tiên của Kandinsky, 1910

Văn nghệ Trừu tượng là xu hướng hội họa đầu thế kỷ 20, vào những năm 1910 đến 1914. Văn nghệ trừu tượng sử dụng ngôn từ thị giác từ những hình dạng, khuôn mẫu, màu sắc và đường nét để tạo ra một sáng tác có thể tồn tại độc lập, ở một mức nào đó, với những tham khảo có thực từ toàn cầu. Văn nghệ phương Tây, từ thời Phục hưng đến giữa thế kỷ 19, được đặt nền tảng bởi logic của phối cảnh và nỗ lực để tái tạo một ảo ảnh về toàn cầu thực tại. Văn nghệ của các nền mỹ thuật khác ngoài châu Âu thì lại dễ tiếp cận và cho thấy những cách khác để mô tả trải nghiệm thị giác tới họa sĩ. Vào cuối thế kỷ 19 nhiều họa sĩ cảm thấy cần phải tạo ra một loại hình mỹ thuật mới đặt giữa những thay đổi trọng yếu xảy ra trong công nghệ, khoa học và triết học. Mỗi họa sĩ có các nguồn khác nhau để tạo ra lý thuyết của mình và tranh luận, cũng như phản ánh mối quan tâm đến xã hội và tri thức trên toàn bộ các ngành nghề của văn hoá phương Tây tại thời điểm đó.

, , , và là các thuật ngữ không quá tách biệt. Chúng khá tương tự nhau, nhưng có vẻ không thực sự giống nhau.

Robert Delaunay, 1912–13, (Le Premier Disque, bán kính: 134 cm, bộ sưu tập cá nhân.

Trừu tượng cho thấy một bước chuyển khởi đầu từ thực tiễn trong mô tả hình ảnh của mỹ thuật. Sự trừu tượng tồn tại trong một chuỗi liên tục. Ngay cả văn nghệ nhằm đạt được mức độ cao nhất cũng có thể được xem như là trừu tượng, tối thiểu là theo lý thuyết, vì sự trổ tài hoàn hảo là không thể nắm bắt. Tác phẩm văn nghệ có thể tự do, những thay đổi ví dụ như màu sắc và hình thức rõ ràng, có thể nói là trừu tượng một phần. là không có dấu vết của bất kỳ tham khảo thực tiễn nào có thể nhận thấy được. Ví dụ, trong trừu tượng hình học, người ta không thể tìm thấy các tham chiếu đến các thực thể tự nhiên. Văn nghệ hình tượng và văn nghệ trừu tượng tổng thể giống như hai mặt của đồng xu, chúng ngoại trừ lẫn nhau. Nhưng lối vẽ hình tượng và cụ tượng (hay tả thực) văn nghệ thường vẫn chứa một phần trừu tượng.

Cả hai lối vẽ: trừu tượng hình học và trừu tượng trữ tình () đều thuộc trừu tượng hoàn toàn. Có rất nhiều trào lưu văn nghệ trổ tài sự trừu tượng một phần có thể nói tới là trường phái dã thú, trong đó màu sắc được làm nổi trội và cố ý thay đổi so với thực tiễn, và trường phái lập thể – thay đổi táo bạo hình thức của các vật thể được mô tả.

Văn nghệ trừu tượng trong mỹ thuật đời đầu và các nên văn hóa

, Lương Khải, thế kỉ 12

Phần lớn mỹ thuật của các nền văn hoá trước đó – những ký hiệu và điểm nhấn trên đồ gốm, đồ dệt, và các bức tranh khắc trên vách đá – sử dụng các hình đơn giản, kỷ hà và tuyến tính, thường nhằm mục đích biểu tượng hay trang trí.Mỹ thuật trừu tượng có thể truyền đạt mức độ giống như vậy qua ngôn từ thị giác. Người ta có thể thưởng thức vẻ đẹp của bức thư pháp của Trung Quốc hoặc thư pháp Hồi giáo mà không thể hay không cần đọc nó.

(Chợ trên núi lúc sương tan), Vũ Kiên, Trung Quốc

Trong mỹ thuật Trung Quốc, tranh trừu tượng có thể được truy nguồn từ nhà thơ Đường Vương Mặc (王 墨), người được cho rằng đã phát minh ra một phong phương pháp vẽ tranh bằng cách vẩy mực . Dù không còn bức tranh nào của ông sót lại, phong phương pháp này lại được thấy rõ ràng trong một số bức tranh triều Tống. Các họa sĩ Phật giáo nhánh Thiền, Lương Khải (梁楷), (1140-1210) đã ứng dụng phong phương pháp vẽ này trong bức tranh “Bát mặc tiên nhân”, tranh đã mô tả đúng đắn sự hy sinh để loại bỏ lý tính trong cái trí của người tỉnh ngộ. Một họa sĩ cuối đời Tống tên là Vũ Kiên, thông thạo giáo lý Phật giáo Thiên Thai, đã tạo ra một loạt tranh các cảnh bằng các nét mực đầy chấm phá, phong phương pháp này đã thu hút rất nhiều họa sĩ Thiền người Nhật. Những bức tranh của ông thường tả những ngọn núi phủ sương mù dày đặc, trong đó các hình dạng của các vật thì khó nhìn thấy và cực kỳ giản lược. Kiểu tranh này được tiếp tục bởi Sesshu Toyo trong những năm sau đó.

(2000) bởi Kanjuro Shibata XX

Một ví dụ khác của sự trừu tượng trong bức tranh Trung Quốc được nhìn thấy trong bức ‘Hỗn luân đồ” của Châu Đức Nhuần. Bên trái của bức tranh này là một cây thông trên đất đá, các nhánh của nó cuộn bởi những nhành nho, chuyển động hỗn loạn về phía bên kia của bức tranh. Bên phải lại là một vòng tròn hoàn hảo (có thể vòng tròn đã được vẽ bằng com-pa ) lơ lửng trong khoảng không. Bức tranh là một sự phản ánh của siêu hình học Đạo giáo, trong đó sự hỗn loạn và thực tế là những trạng thái bổ khuyết của một chu trình tự nhiên bình thường. Dưới thời Tokugawa, một số thợ sơn Thiền đạo đã tạo ra Enso , một vòng tròn tượng trưng cho sự giác ngộ tuyệt đối. Enso thường được thực hiện trong một cú đánh bút tự nhiên, nó trở thành dạng thức của thẩm mỹ tối giản, dẫn dắt một phần quan trọng trong các bức tranh thiền.

Thế kỉ XIX

Bài chi tiết: Chủ nghĩa lãng mạn, Trường phái Ấn tượng, Hậu ấn tượng, và Chủ nghĩa biểu hiện

James McNeill Whistler, (1874), Viện Nghệ thuật Detroit. Một bức tranh gần với trừu tượng, năm 1877 Whistler kiện nhà phê bình nghệ thuật John Ruskin đã dám phỉ báng bức tranh. Ruskin lại tố cáo Whistler “đã ném một nồi sơn vào mặt công chúng.”

Lúc này, các khoản bảo trợ từ nhà thờ đã giảm.  Nguồn cung sinh kế cho các họa sỹ đang dần là các khoản bảo trợ tư nhân đến từ cộng đồng.

Ba trường phái hay phong trào nghệ thuật góp phần vào sự phát triển của nghệ thuật trừu tượng là chủ nghĩa Lãng mạn, trường phái Ấn tượng và chủ nghĩa biểu hiện. Các họa sĩ đã ngày càng độc lập về nghệ thuật trong thế kỷ 19. Lối vẽ , có thể được nhận ra từ các bức tranh của John Constable, J M W Turner, Camille Corot và từ họ, các nhà họa sĩ Ấn tượng đã tiếp tục vẽ tranh ngoài trời theo trường phái Barbizon.

Những dấu hiệu đầu tiên của một trường phái nghệ thuật mới được họa sĩ James McNeill Whistler khơi mào. Trong bức tranh (1872) của ông, cảm giác thị giác được nhấn mạnh hơn là mô tả sự vật.

Các họa sĩ của trường phái Biểu hiện đã khám phá ra việc sử dụng những nét sơn dày, vẽ méo mó và phóng đại, cùng với các màu sắc mãnh liệt. Những họa sĩ trường phái này đã vẽ nên những bức tranh giàu xúc cảm. Những bức tranh có thể coi là phản ứng và nhận thức về những sự kiện đương thời; cũng như là lời hồi đáp với trường phái Ấn tượng và các trường phái khác cổ điển hơn của hội họa vào cuối thế kỷ 19. Những họa sĩ Biểu hiện đã làm thay đổi mạnh mẽ từ nhấn mạnh chủ đề sang nhấn mạnh miêu tả các trạng thái tâm lý hiện hữu. Mặc dù các nghệ sĩ như Edvard Munch và James Ensor chịu ảnh hưởng lớn từ tác phẩm của trường phái Hậu Ấn tượng, họ đã đóng góp lớn cho sự xuất hiện của trường phái trừu tượng vào thế kỷ 20. Paul Cézanne ban đầu như một người theo chủ nghĩa Ấn tượng, nhưng mục đích của ông – xây dựng hiện thực hợp lý từ góc nhìn nhất định, với màu sắc chuyển vần ở trên mặt phẳng – trở thành nền tảng của một

loại hình hội họa mới, sau đó được phát triển thành chủ nghĩa Lập thể của Georges Braque và Pablo Picasso.

Xem Thêm  Bạn có biết hãng xe BMW của nước nào? - bmw đọc là gì

Ngoài ra vào cuối thế kỷ XIX ở Đông Âu, chủ nghĩa thần bí và buổi đầu của chủ nghĩa hiện đại được thể hiện bởi nhà thần trí Helena Blavatsky đã có một tác động sâu sắc đến các họa sỹ hình học tiên phong như Hilma af Klint và Wassily Kandinsky. Giáo lý thần bí của Georges Gurdjieff và P.D. Ouspensky cũng đã có một ảnh hưởng quan trọng đối với sự hình thành các phong cách trừu tượng hình học của Piet Mondrian và các đồng nghiệp của ông vào đầu thế kỷ 20.

Thế kỉ XX

Henri Matisse, 1913, ảnh chụp bởi Alvin Langdon Coburn, một họa sĩ ảnh hưởng lớn đến phong trào nghệ thuật Dã thú

Bài chi tiết: Lập thể và Trường phái Dã thú

Trường phái Hậu Ấn tượng với các họa sĩ như Paul Gauguin, Georges Seurat, Vincent van Gogh và Paul Cézanne đã có một tác động rất lớn đối với mỹ thuật thế kỷ 20 và dẫn tới sự ra đời của trường phái trừu tượng của thế kỷ 20. Các tác phẩm để lại của các họa sĩ như Van Gogh, Cézanne, Gauguin, và Seurat là tối quan trọng cho sự phát triển của mỹ thuật hiện đại. Vào đầu thế kỷ 20, Henri Matisse và một số nghệ sĩ trẻ tiền-Lập thể khác có thể kể đến như Georges Braque, André Derain, Raoul Dufy và Maurice de Vlaminck đã cách mạng giới nghệ thuật ở Paris với các bức vẽ “hoang dã”, đa màu sắc, hàm xúc mà các nhà phê bình gọi là trường phái Dã thú. Với các màu sắc mạnh mẽ, những nét vẽ tự do và giàu tính tưởng tượng, Henri Matisse đã tiến rất gần với sự trừu tượng thuần túy qua các bức tranh (1914), (1914) và năm 1915. Ngôn ngữ của màu sắc như được phát triển bởi trường phải dã thú cũng trực tiếp ảnh hưởng một người tiên phong khác của trường phái trừu tượng, Wassily Kandinsky (xem tranh).

, (phần đầu, motif thứ 3), vẽ bởi Robert Delaunay, sơn dầu trên voan.

Lyubov Popova, , 1913. Một bức tranh theo trường phái Lập thể

Mặc dù trường phái Lập thể rất phụ thuộc vào chủ thể, trường phái này, cùng với Dã thú, là các phong trào nghệ thuật đã trực tiếp mở ra cánh cửa để bước tới trường phái trừu tượng trong thế kỷ 20. Pablo Picasso đã tạo ra những bức hoạ đầu tiên của ông dựa trên ý tưởng của Cézanne rằng tất cả các mô tả về tự nhiên có thể được giản lược còn ba khối rắn: hình lập phương, hình cầu và hình nón. Với bức tranh (1907), Picasso đã mô tả trần trụi cảnh nhà thổ thô sơ với năm cô gái bán dâm. Ông vẽ các phụ nữ một cách bạo liệt, có thể gợi đến các mặt nạ thổ dân châu Phi và thể hiện sáng tạo Lập thể mới của ông. Lập thể phân tích được Pablo Picasso và Georges Braque cùng phát triển trong khoảng năm 1908 đến năm 1912. Trường phái Lập thể phân tích là biểu hiện rõ ràng đầu tiên của trường phái Lập thể, theo sau đó là Lập thể tổng hợp với các họa sĩ Braque, Picasso, Fernand Léger, Juan Gris, Albert Gleizes, Marcel Duchamp và một số người khác vào những năm 1920. Lập thể tổng hợp được đặc trưng bởi đi đầu trong sử dụng các kết cấu, bề mặt khác nhau, các yếu tố , kỹ thuật và các chủ đề hỗn hợp đa dạng. Dù cấu tạo từ các phần rời rạc hay chắp nối, nhưng khi tập hợp lại, chúng có thể tạo nên bức tranh ở một tầm mới. Một số họa sĩ như Kurt Schwitters và Man Ray và một số họa sĩ khác lấy gợi ý từ trường phái Lập thể đã góp phần sự phát triển của phong trào mỹ thuật với tên gọi Dada.

Nhà thơ người Ý Filippo Tommaso Marinetti xuất bản ( vào năm 1909, cuốn sách sau đó đã truyền cảm hứng cho các nghệ sĩ như Carlo Carra trong bức và Umberto Boccioni với bức , 1911, tới một giai đoạn trừu tượng hơn nữa, cùn với trường phái Lập thể, những phong trào nghệ thuật này có ảnh hưởng sâu sắc khắp Châu Âu .

Robert Delaunay, 1911. Một bức tranh theo trường phái oóc-phê.

Trong năm 1912, nhà thơ Guillaume Apollinaire đã đặt tên cho tác phẩm của nhiều họa sĩ,trong đó có Robert, là trường phái óoc-fê () . Ông đã định nghĩa nó là, .

Kể từ đầu thế kỷ 20, các mối quan hệ văn hoá giữa các họa sĩ giữa các thành phố lớn ở châu Âu trở nên cực kỳ năng động khi họ cố gắng tạo ra một hình thức nghệ thuật tương xứng với nguyện vọng cao cho chủ nghĩa Hiện đại. Các ý tưởng có thể được trao đổi chéo nhau qua sách vở, triển lãm và các phát biểu của các họa sĩ để nhiều nguồn có thể được khơi ra cho thử nghiệm và thảo luận, giúp tạo cơ sở cho các phương thức trừu tượng đa dạng. Đoạn trích sau đây trong cuốn cho thấy sự liên kết văn hoá vào thời điểm đó ấn tượng ra sao: “Kiến thức của David Burliuk về các phong trào mỹ thuật hiện đại hẳn là rất cập nhật, cuộc triển lãm “Con Bồi Rô” lần thứ hai vào tháng 1 năm 1912 (tổ chức ở Moskva) không chỉ có những bức tranh được gửi từ Munich, mà còn có tranh một số thành viên của nhóm ở Đức, trong khi tới từ Paris là các bức họa vẽ bởi Robert Delaunay, Henri Matisse và Fernand Léger, cũng như Picasso. Vào mùa xuân, David Burliuk đã có bài giảng về chủ nghĩa Lập thể và ông lên kế hoạch đăng các bài tranh biện trên báo, với ngân quỹ từ triển lãm “Con Bồi Rô”. Ông ra nước ngoài vào tháng 5 và trở lại với quyết tâm cạnh tranh ấn phẩm với được xuất bản khi ông còn ở Đức “.

Từ năm 1909 đến năm 1913, nhiều tác phẩm thử nghiệm trên đường tìm kiếm ‘nghệ thuật thuần khiết’ được vẽ ra bởi: Hilma af Klint; Francis Picabia với , 1909, , 1912, và , 1912. Wassily Kandinsky thì vẽ bức (), 1910. František Kupka đã vẽ những tác phẩm theo trường phái óoc-fê, (Phân tích cho tẩu pháp bằng hai màu), 1912 và (Tẩu pháp trong hai màu), 1912; Roberto Delaunay đã vẽ một loạt tranh có tựa đề và (1912-13);Léopold Survage thì vẽ (Phân tích cho dùng phim), 1913; Piet Mondrian vẽ và , 1913.

Các cuộc tìm kiếm vẫn tiếp tục: Các bức vẽ theo trường phái Toả tuyến () của Natalia Goncharova và Mikhail Larionov, đã sử dụng các đường nét như những tia sáng để họa nên tác phẩm. Kasimir Malevich thì hoàn thiện tác phẩm trừu tượng toàn phần trước tiên của mình, theo trường phái Tuyệt đỉnh (), ‘Hình vuông đen’, vào năm 1915. Một trong những họa sĩ theo trường này nữa là Liubov Popova, bà đã vẽ nên loạt tranh và vào giữa các năm 1916 và 1921. Piet Mondrian cũng phát triển ngôn từ trừu tượng bằng các đường ngang, dọc với hình chữ nhật tô màu, vào khoảng giữa năm 1915 và năm 1919 tạo ra trường phái Tân tạo hình Trường phái này được Mondrian, Theo van Doesburg và các thành viên nhóm De Stijl theo đuổi với dự tính thay đổi môi trường văn nghệ trong tương lai

Âm nhạc

Wassily Kandinsky, (1923)

Khi văn nghệ thị giác trở nên trừu tượng hơn, mỹ thuật cũng phát triển một số đặc tính của âm nhạc: này là sử dụng các yếu tố trừu tượng của tiếng động và sự phân tách của thời gian. Wassily Kandinsky, mà thực ra là một nhạc sĩ không chuyên, lấy cảm xúc từ khả năng sử dụng các dấu ấn và màu phối hợp để tạo . Ý tưởng này được mang ra bởi Charles Baudelaire, rằng toàn bộ các giác quan của tất cả chúng ta thỏa mãn với các kích thích khác nhau nhưng được kết nối ở một mức độ thẩm mỹ sâu sắc hơn.

Liên quan chặt chẽ đến điều này, là ý tưởng rằng văn nghệ có và vượt trên những trải nghiệm “mỗi ngày”, đạt đến một cảnh giới trí não mới. Hiệp hội Thần trí thì thông dụng trí tuệ thượng cổ trong các thánh thư của Ấn Độ và Trung Quốc trong những năm đầu của thế kỷ. Trong hoàn cảnh này, Piet Mondrian, Wassily Kandinsky, Hilma af Klint và các nghệ sĩ khác đang sáng tác theo ‘trạng thái vật thể’ trở nên quan tâm đến huyền bí như là một phương pháp để nhìn vào nội tâm loài người. Các hình dạng phổ quát và phi thời gian tìm thấy trong hình học: hình tròn, hình vuông và hình tam giác trở thành các yếu tố không gian trong văn nghệ trừu tượng; chúng giống như màu sắc, là các cốt yếu nằm dưới thực tiễn hữu hình.

Xem Thêm  Top 19 kết quả tìm kiếm khoa hoc nhiep anh mới nhất 2022

Thời kỳ tiên phong của Nga

Bài cụ thể: Chủ nghĩa vị lai

Kazimir Malevich, , 1923

Nhiều họa sĩ trừu tượng ở Nga đã đi theo trường phái Kiến tạo () với niềm tin rằng văn nghệ không đang là một cái gì đó xa xôi, mà chính là cuộc sống. Các họa sĩ phải như một một kỹ thuật viên, học cách sử dụng các dụng cụ và nguyên liệu sản xuất thời hiện đại. là slogan của Vladimir Tatlin, và của toàn bộ các họa sĩ Kiến tạo sau này. Varvara Stepanova và Alexandre Exter cùng một số người khác thì từ bỏ giá vẽ và chuyển công sức của mình cho các thiết kế sân khấu và các tác phẩm đồ hoạ. Một thái cực khác là Kazimir Malevich, Anton Pevsner và Naum Gabo. Họ lập luận rằng mỹ thuật là tối trọng yếu cho hoạt động trí não; tạo ra vị trí của cá nhân trên toàn cầu, chứ không phải để tổ chức cuộc sống theo chủ nghĩa thực dụng và duy vật. Nhiều người trong số họ đi nghịch với ý tưởng văn nghệ sản xuất duy vật và rời khỏi Nga. Anton Pevsner sang Pháp, Gabo đi đến Berlin, rồi tới Anh và cuối cùng đến Mỹ. Kandinsky học ở Moscow sau đó đến Bauhaus. Vào giữa những năm 1920, thời kỳ Cách mạng (1917-1921) thời kì các nghệ sĩ đã được tự do trải nghiệm đã kết thúc; sau đó, vào những năm 30, chỉ chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa mới là hợp phép.

Trường Mỹ thuật Bauhaus

Trường Mỹ thuật Bauhaus được thành lập bởi Walter Gropius vào năm 1919 tại Weimar, Đức. Triết lý của chương trình giảng dạy là nhất thống toàn bộ các văn nghệ thị giác và văn nghệ tạo hình từ thiết kế và hội họa. Triết lý này đã phát triển từ những ý tưởng của xu hướng Văn nghệ Thủ công ở Anh và . Một số giáo viên có thể nói tới như Paul Klee, Wassily Kandinsky, Johannes Itten, Josef Albers, Anni Albers và László Moholy-Nagy. Năm 1925 trường được xê dịch đến Dessau. Đến năm 1932, khi đảng Quốc xã nắm quyền kiểm tra, Bauhaus bị buộc phải đóng cửa. Năm 1937, cuộc triển lãm mỹ thuật (cụm từ đảng Quốc xã dành riêng cho mỹ thuật hiện đại), ‘Entartete Kunst’ đã trưng bày toàn bộ các loại hình mỹ thuật tiên phong bị đảng Quốc xã cấm đoán. Tuy nhiên, dưới căng thẳng của Đức Quốc xã, giới họa sĩ, không chỉ riêng ở Bauhaus mà cả Châu Âu nói chung, phải sơ tán đi khắp nơi, như đến Paris, London và Mỹ. Paul Klee đến Thụy Sĩ nhưng nhiều họa sĩ ở Bauhaus thì tới Mỹ.

Trường phái trừu tượng ở London và Paris

, tranh của Taeuber Arp, 1932, màu bột trên giấy

Trong những năm 1930, Paris trở thành ngôi nhà của các họa sĩ tới từ Nga, Đức, Hà Lan và các nước châu Âu khác đang chịu căng thẳng từ sự trỗi dậy của các nhà nước chuyên chế. Sophie Tauber và Jean Arp hợp tác trong sáng tác về hội họa và điêu khắc với các khuôn mẫu hữu cơ/hình học. Katarzyna Kobro của Ba Lan lại ứng dụng những ý tưởng trên nền tảng toán học để điêu khắc. Rất nhiều loại hình trừu tượng lúc này khiến các nghệ sĩ phấn đấu phân tích rất nhiều các khái niệm và thẩm mỹ. Một triển lãm của 46 thành viên trong nhóm được tổ chức bởi Joaquin Torres-Garcia với sự trợ giúp của Michel Seuphor đã trưng bày các tác phẩm của trường phái Tân tạo hình; cũng như một số tác phẩm trừu tượng phong phú từ các họa sĩ như như Kandinsky, Anton Pevsner và Kurt Schwitters. Theo van Doesburg đã phê bình triển lãm là quá vô định. Trong một bộ sưu tập được ông xuất bản trên tạp chí , ông mang ra một khái niệm một văn nghệ trừu tượng là các đường nét, màu sắc và mặt phẳng tạo ra một hiện thực rõ ràng. được thành lập vào năm 1931 lại là một nhóm mở hơn, phân phối các tham khảo cho các họa sỹ trừu tượng. Khi tình hình chính trị trở nên tệ hơn vào năm 1935, các họa sĩ dần tập trung lại, với nhiều người ở London. Triển lãm trước tiên về văn nghệ trừu tượng của Vương quốc Anh được tổ chức tại Anh vào năm 1935. Một năm sau, triển lãm “Trừu tượng và hội họa Cụ thể Quốc tế” được tổ chức bởi Nicolete Gray trưng bày các tác phẩm của Piet Mondrian, Joan Miró, Barbara Hepworth và Ben Nicholson. Hepworth, Nicholson và Gabo sau đó chuyển đến nhóm St. Ives ở Cornwall để tiếp tục các tác phẩm theo trường phái Kiến tạo của họ.

Mỹ: giữa thế kỷ XX

Piet Mondriaan, 1939-1942,

Trong thời kì Đức Quốc xã đang bành trướng quyền lực vào những năm 1930, nhiều nghệ sĩ đã rời khỏi Châu Âu đến Hoa Kỳ. Vào đầu những năm 1940, những trường phái chính trong mỹ thuật hiện đại, như trường phái triệu chứng, chủ nghĩa lập thể, trừu tượng, siêu thực và dada đã được trổ tài ở New York: Marcel Duchamp, Fernand Léger, Piet Mondrian, Jacques Lipchitz, André Masson, Max Ernst, André Breton, là số ít người châu Âu lưu vong đến New York. Nền văn hóa phong phú ở đây được các nghệ sỹ châu Âu mang đến đã được các họa sỹ “bản địa” ở New York lắng đọng và củng cố. Không khí tự do ở New York cho phép toàn bộ những tác động này phát triển. Các phòng trưng bày văn nghệ vốn đa số tập trung vào mỹ thuật Châu Âu đã khởi đầu Note đến cộng đồng mỹ thuật địa phương và tác phẩm của các họa sỹ Mỹ trẻ đang dần trưởng thành. Một số họa sĩ thời điểm này đã mang sự trừu tượng rõ ràng vào các tác phẩm của họ. Trong thời kỳ này, bức tranh của Piet Mondrian , khoảng năm 1939-1942, được đặc trưng bởi các màu cơ bản, nền trắng và các đường lưới màu đen rõ ràng xác nhận cách tiếp cận đột phá nhưng cổ kính của ông so với hình chữ nhật và mỹ thuật trừu tượng nói chung. Một số nghệ sĩ của thời kỳ này đã thách thức sự phân loại thông thường, ví dụ như Georgia Σ’Keeffe lúc là một họa sĩ trừu tượng theo trường phái Hiện đại; cô là một người phá cách thuần túy vì đã vẽ các hình thức trừu tượng cao nhưng không có thể xếp vào bất kỳ nhóm rõ ràng nào của thời kỳ này.

Cuối cùng, các họa sĩ Mỹ đang làm việc với các phong thái vô cùng phong phú dần thống nhất thành các nhóm phong thái lắng đọng. Nhóm họa sĩ nổi tiếng nhất của Mỹ đã được nghe đến là các nhà mỹ thuật Trừu tượng Triệu chứng và trường phái New York. New York cho các họa sĩ không khí để tích cực thảo luận và tìm thấy thời dịp mới để học hỏi và phát triển. Các họa sỹ và giáo viên như John 𝓓. Graham và Hans Hofmann đã trở thành những cây cầu trọng yếu nối giữa những người theo chủ nghĩa Hiện đại châu Âu mới đến và các họa sĩ trẻ người Mỹ đang dần tới độ chín. Mark Rothko, sinh ra ở Nga, khởi đầu với tranh siêu thực, rồi sau đó chuyển thành các tác phẩm với màu sắc mạnh mẽ vào đầu những năm 1950. Lối vẽ Trừu tượng Hành động () và chính hoạt động vẽ tranh, thì trở nên tối trọng yếu so với một số họa sĩ như Jackson Pollock, Robert Motherwell, và Franz Kline. Vào những năm 40, các tác phẩm minh họa của Arshile Gorky và Willem de Kooning phát triển thành trừu tượng vào cuối thập kỷ. Tp New York đã trở thành trung tâm, thu hút các họa sỹ trên toàn toàn cầu; và cả từ những nơi khác ở Mỹ nữa.

Bộ sưu tập tranh

  • Arthur Dove, 1911–12, , màu bột. Nay tranh đã thất lạc

  • Wassily Kandinsky, 1912, (Vườn tình II), sơn dầu trên voan, 120.3 Ҳ 140.3 cm, Bảo tàng Trung tâm, New York. Trưng bày tại 1913 Triển lãm Armory

  • Wassily Kandinsky, (1913)

  • Wassily Kandinsky, (1913)

  • Hilma af Klint, (), số 17, nhóm IX, Chùm tranh SUW, Tháng 10 1914-tháng 3 năm 1915. Tác phẩm này chưa lúc nào được trưng bày khi Klint còn sống.

  • Theo van Doesbur)

  • Piet Mondrian, , 1921, Viện Mỹ thuật Chicago

  • Paul Klee, , 1929

  • Otto Gustaf Carlsund, (1930), tranh trường phái Rõ ràng và cụ thể treo trong quán ăn, Stockholm

  • Umberto Boccioni, 1912, (), sơn dầu trên voan, 100 Ҳ 100 cm, Museo del Novecento

  • Juan Gris, , 1912, sơn dầu trên voan, Viện Văn nghệ Chicago

  • Ronnie Landfield, 1985

  • , 1971,, 221×183 cm, được trưng bày tại Phòng tranh David Whitney, NYC, tháng 5 năm 1971

Xem Thêm  Top 11 kết quả tìm kiếm tai khoa man hinh mien phi mới nhất 2022

Link ngoài

  • Scientific inquiry in modern art
  • American Abstract Artists

—end—


Xem thêm những thông tin liên quan đến đề tài hình ảnh văn nghệ trừu tượng

10 bức tranh kinh điển nổi tiếng được tìm kiếm nhiều nhất thế giới- tranh văn nghệ

  • Tác giả: Tranh Đẹp
  • Ngày đăng: 2020-05-06
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 4109 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: https://tranhdep.com/
    https://www.facebook.com/Homeart.vnart
    https://www.facebook.com/groups/httpshomeart.vn
    Trân thành cảm ơn bạn đăng ký và theo dõi Vua Tranh
    —————————-
    Kỳ này Vua Tranh sẽ chia sẻ cùng các bạn 10 bức tranh kinh điển, nổi tiếng đó nhé. Kết quả do trang CNN tổng hợp theo số lượng tìm kiếm thông qua Google.
    1. Bức tranh Mona Lisa của Họa sĩ Leonardo da Vinci
    Đây là một bức chân dung thế kỷ 16 được vẽ bằng sơn dầu trên một tấm gỗ dương tại Florence (Phờ lo rừn) bởi Leonardo da Vinci trong thời kì Phục Hưng Italia. Tác phẩm hiện được trưng bày tại bảo tàng Louvre (lu vờ) ở Paris, Pháp.
    Bức tranh trở nên đặc biệt bởi chân dung một phụ nữ có những nét trổ tài trên khuôn mặt thường được mô tả là huyền bí. là những tính chất mới lạ góp phần vào sức mê hoặc của bức tranh.
    2. Bức tranh Bữa ăn tối cuối cùng cũng của danh họa Leonardo da Vinci
    Bức tranh được vẽ trong thời kì mà hình ảnh tôn giáo vẫn là một đề tài văn nghệ chủ đạo, kể lại mẩu chuyện trong bữa ăn cuối cùng mà Chúa Jesus chia sẻ với các môn đồ trước khi Ngài chịu chết.
    Bức tranh buổi tiệc ly được vẽ trong 7 năm với toàn bộ tâm huyết của danh họa sỹ Leonardo da Vinci
    3. Bức tranh Người nổi tiếng đêm của họa sĩ Vincent van Gogh
    Đêm đầy sao là một bức tranh của họa sĩ hậu ấn tượng người Hà Lan Vincent van Gogh. Được vẽ
    Bức tranh tương đối trừu tượng là ví dụ điển hình cho việc sử dụng những nét vẽ dày và sáng tạo của van Gogh.
    4. Bức tranh Tiếng thét của họa sĩ Edvard Munch (ét vác măn kh)
    Bạn có biết không? Nhân vật dị thường trong bức tranh theo phong thái Art Nouveau (át niu vầu) không tạo ra tiếng hét mà là phấn đấu ngăn chặn một tiếng thét xuyên thấu tới từ thiên nhiên. Bức tranh phong cảnh , tranh hiện được trưng bày tại cửa tiệm tranhdep.com
    5. Bức tranh Guernica (giơ ni ka) của danh họa Pablo Picasso
    Guernica ra đời năm 1937, là bức vẽ nổi tiếng vẽ về đề tài chống chiến tranh. Tác phẩm được giới mỹ thuật nhận xét là một đỉnh cao trong văn nghệ của Picasso.
    Hay tin Guernica bị tàn phá thảm khốc, nhìn cảnh đổ nát hoang tàn, danh họa vẽ bức tranh này với niềm đau thương vô tận. Bức tranh được tối giản về màu sắc đến mức chỉ còn đen – trắng và vài vệt vàng nhạt. Sự tương phản sáng tối và những hình hài trừu tượng nhưng khúc chiết, Picasso đã trổ tài một cách mạnh mẽ đến cực độ nỗi kinh hoàng kinh khủng của các nạn nhân chiến tranh. Với đặc trưng ngôn từ tạo hình của tranh đồng quê
    6. Bức tranh Nụ hôn của Họa sĩ Gustav Klimt (gứt táp ƙ lam tr)
    Nụ hôn là bức tranh của danh họa Gustav Klimt, được thực hiện vào năm 1907 và có thể coi là tác phẩm nổi tiếng nhất của ông. Bức tranh được trang trí theo phong thái hiện đại, tác động bởi đường nét của phong thái tranh hiện đại) thời hiện đại và văn nghệ xếp giấy của trào lưu thủ công mỹ nghệ trước đó. Tác phẩm sơn dầu có phủ một lớp vàng lá bên trên, giúp bức tranh có vẻ đẹp hiện đại, ấn tượng.
    Họa sỹ cho biết, bức tranh mang ra một tuyên bố ngụ ngôn chung về tình yêu,
    7. Bức tranh chân dung Cô gái đeo hoa tai ngọc trai của Họa sĩ Julian Vermeer

    Cô gái đeo hoa tai ngọc trai là một bức tranh sơn dầu của họa sĩ người Hà Lan tranh chân dung được vẽ năm 1665. Bức tranh được mệnh danh là tranh đẹp của Việt Nam” đại diện cho nghệ thuật Hà Lan ở thời kỳ hoàng kim nhất.
    Cô gái trong bức tranh mặc một chiếc khăn xếp màu xanh và vàng cùng với một chiếc bông tai ngọc trai lớn.

    8. Bức tranh Sự ra đời của thần Vệ nữ của Họa sĩ Sandro Botticelli (San đờ rô bót ti seo li)
    Được vẽ năm 1485, Sự ra đời của thần Vệ nữ là là một trong những kiệt tác của thời Phục hưng Ý
    Sandro Botticelli bót ti seo li đã vẽ bức tranh trên vải thay vì gỗ, loại vật liệu phổ biến hơn vào thời điểm đó. vào thời điểm này, có lẽ lần đầu tiên trong hội họa, hình ảnh của phụ nữ . Tranh khỏa thân được vẽ rực rỡ và xuân sắc như vậy. Lý do để tác phẩm tồn tại có lẽ bởi họa sĩ dùng cốt truyện thần thoại. Hình tượng nàng Vệ nữ đã trở thành biểu tượng về tinh thần học tập từ nghệ thuật thời Hy Lạp – La Mã cổ xưa của phong trào Phục hưng.
    Bức tranh cũng đánh dấu cho chủ đề về khỏa thân đã dần dần lên ngôi và khơi nguồn cảm hứng cho rất nhiều thế hệ họa sĩ sau này.
    9. Bức tranh Las Menina Lát me ni nờ của Họa sĩ Diego Velázquez vơ lát s khờ
    Được vẽ năm 1656, “Las Menina” khắc họa hình ảnh một buổi vẽ tranh chân dung gia đình hoàng thất Tây Ban Nha. Đây không chỉ là bức tranh nổi tiếng nhất của Diego Velázquez, mà đang là một trong những tác phẩm lớn nhất trong sự nghiệp của ông. Thành phần phức tạp và huyền bí của tác phẩm đề ra những thắc mắc về thực tiễn và ảo tưởng,
    10. Bức tranh “Chúa trời tạo ra Adam” của Họa sĩ Michelangelo mai cơn len gê lô

    “về buổi khai thiên tịch địa, Chúa đã phân trời mở đất…Học vẽ
    Bức tranh chỉ là một phần trong toàn thể kiệt tác vẽ trên trần nhà nguyện Sistine sít tin nhưng lại là bức tranh cổ kính nổi tiếng nhất
    10buctranhduoctimkimnhieunhat, artist oilpainting tranhsondau Nghethuatbocuvakhuonhinh
    tranhphongcanh hoaisIvanShishkin nghethuathiendailagi

Hình Ảnh Nghệ Thuật Trừu Tượng, 100 Trừu Tượng Ý Tưởng

  • Tác giả: vuihecungchocopie.vn
  • Nhận xét: 3 ⭐ ( 7361 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Văn nghệ trừu tượng là một trong những trường phái văn nghệ tiêu biểu của toàn cầu. Các tác phẩm văn nghệ trừu tượng sẽ đạt được hai giá trị: Giá trị

Bộ hình nền văn nghệ trừu tượng mới lạ nhất cho desktop

  • Tác giả: wikilaptop.com
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 9180 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Nội dung nhận xét ⭐_⭐_⭐_⭐_⭐✅ Bộ hình nền văn nghệ trừu tượng mới lạ nhất cho desktop – WikiLaptop.com™ ✅Review cụ thể – đầy đủ ✅ NHẤN XEM NGAY ✌

Văn nghệ: Tranh trừu tượng – SEAMEO RETRAC Summer Fun

  • Tác giả: anhvanseameo.vn
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 6573 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm:

Văn nghệ trừu tượng

  • Tác giả: bantranh.com
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 2917 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Tranh văn nghệ trừu tượng.

Tuyển tập 30 hình nền văn nghệ trừu tượng Abstract Artistic mới lạ

  • Tác giả: startuanit.net
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 4228 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Cùng tìm tòi bộ ảnh hình nền những bức ảnh văn nghệ trừu tượng ấn tượng, thu hút ánh nhìn và tải miễn phí về cho PC, máy tính, macbook.

Những Tác Phẩm Nghệ Thuật Trừu Tượng Nổi Tiếng Nhất Trong Vòng 100 Năm Qua (Phần 1)

  • Tác giả: thesculture.com
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 9492 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Đẳng Cấp – Những Tác Phẩm Nghệ Thuật Trừu Tượng Nổi Tiếng Nhất Trong Vòng 100 Năm Qua (Phần 1)

Xem thêm các nội dung khác thuộc thể loại: Thủ thuật máy tính

By ads_php