Đây là trang thông tin cá nhân của Cường

Bạn đang xem: thân nhiệt của các loài vật

Ι.

 Đại cương

Người thuộc loại động vật hằng nhiệt. Tất cả chúng ta thường điều hoà nhiệt độ trung tâm của thân thể trong một khoảng hẹp xung quanh 37oC khi tiếp xúc với một khoảng thay đổi nhiệt độ rộng của môi trường.

Một người không mặc áo quần có thể tiếp xúc với nhiệt độ môi trường từ thấp là 12,8oC  đến cao là 54,5oC trong không khí khô mà vẫn duy trì được thân nhiệt trong khoảng 36,1-37,8oC. Ở nhiệt độ 40-41oC, loài người có thể dung nạp chỉ trong một thời gian ngắn. Khi thân nhiệt từ 42oC trở lên, xảy ra sự giáng hoá nhanh chóng của protein trong tế bào và kéo theo tử vong.

Toàn bộ các phản ứng tế bào, sinh hoá và enzyme đều phụ thuộc nhiệt độ. Vì vậy, sự điều hoà thân nhiệt tối ưu là thiết yếu cho các hoạt động sinh lý ở động vật hằng nhiệt .       

II. Thân nhiệt

Là nhiệt độ các phần sâu trong thân thể như gan, não và các tạng … , hay còn gọi là nhiệt độ phần lõi thân thể. Nhiệt độ trung tâm bình thường nằm trong hạn chế từ 36-37,5oC nhưng hay gặp nhất là 36,5-37oC. Có 3 cách đo nhiệt độ trung tâm :

–   Đo ở trực tràng : nhiệt độ đo ở trực tràng với độ sâu chuẩn là 5-10 cm được xem là tiêu biểu cho nhiệt độ trung tâm.

–   Đo ở miệng (dưới lưỡi) : thấp hơn ở trực tràng khoảng 0,4-0,6oC.

–   Đo ở hõm nách : thấp hơn nhiệt độ trực tràng khoảng 0,65oC.

Là nhiệt độ của da và tổ chức dưới da, còn gọi nhiệt độ phần vỏ thân thể.

Nhiệt độ này thay đổi theo từng vị trí trên thân thể và theo nhiệt độ môi trường. Ở nhiệt độ phòng (24-25oC), nhiệt độ da vùng đầu, ngực, bụng là 35oC; vùng cánh tay và ống chân là 31oC; vùng bàn tay, bàn chân là 29oC.

3.1. Vận cơ

Có thể làm tăng nhiệt độ trung tâm lên 2oC hoặc hơn. Nhiệt độ trực tràng có thể lên đến 38,5-40oC khi lao động thể lực nặng, lên đến 41oC khi vận cơ quá mức và kéo dài.

3.2. Nhịp sinh học (nhịp ngày đêm)

Thân nhiệt giảm tối thiểu vào buổi tối khi đang ngủ và tăng nhẹ vào sáng sớm. Thân nhiệt đạt tối đa vào buổi chiều. Mức thay đổi nhiệt độ trong ngày là khoảng 1oC.

3.3. Chu kỳ kinh nguyệt và thai kỳ

Thân nhiệt sau ngày rụng trứng có thể tăng hơn trước đây ngày rụng trứng khoảng 0,3-0,5oC. Những tháng cuối thai kỳ, thân nhiệt có thể tăng thêm 0,5-0,8oC.

3.4. Tuổi

Trẻ em thường có thân nhiệt cao hơn người lớn do tăng các hoạt động vật lý lẫn chuyển hoá. Trẻ sinh non, trẻ sơ sinh và người già đều có thân nhiệt không ổn định.

3.5. Bệnh lý

Tăng thân nhiệt có thể gặp trong nhiễm trùng, cường giáp hoặc u tuyến thượng thận… Giảm thân nhiệt có thể gặp trong bệnh tả thể giá lạnh hoặc suy giáp.

Nhiệt là sản phẩm phụ của chuyển hoá. Có các loại sinh nhiệt sau đây :

–   Chuyển hoá nền tảng ở mọi tế bào.

–   Chuyển hoá tăng thêm do co cơ, bao gồm cả run.

–   Chuyển hoá tăng thêm do tác dụng của thyroxin (và một ít do hormone tăng trưởng và testosterone) trên tế bào.

–   Chuyển hoá tăng thêm do hiệu quả của epinephrine, norepinephrine và kích thích giao cảm trên tế bào.

–   Chuyển hoá tăng thêm do sự tăng nhiệt độ của chính tế bào.

Như vậy, quá trình sinh nhiệt là quá trình hoá học.

Hầu như lượng nhiệt sinh ra trong thân thể được tạo thành từ các đơn vị ở sâu như gan, não, tim và cơ (khi có vận cơ). Rồi thì nhiệt được vận tải đến da là nơi có thể thải nhiệt vào môi trường xung quanh. Quá trình thải nhiệt là một quá trình vật lý.

1. Cấu trúc của thân thể thuận tiện với tính năng điều nhiệt

1.1. Lớp cách nhiệt

Bao gồm da và tổ chức dưới da, trong đó mỡ là chất cách nhiệt tốt nhất vì độ dẫn nhiệt của nó chỉ bằng 1/3 các tổ chức khác.

Lợi điểm của lớp cách nhiệt là nó giúp duy trì nhiệt độ trung tâm trong lúc nhiệt độ da có thể bị xuống thấp theo nhiệt độ môi trường.

1.2. Dòng máu mang nhiệt từ phần lõi đến da

Có nhiều mạch máu xuyên qua lớp cách nhiệt và phân tách chằng chịt ngay sát dưới mặt da. Vô cùng quan trọng là các búi tĩnh mạch dày đặc ngay dưới da.

Các cấu trúc mạch này có khả năng thay đổi lưu lượng máu rất lớn. Từ chỗ không để máu chảy qua đến mức có thể cho qua 30% lưu lượng tim. Lưu lượng dòng máu chịu sự điều khiển của hệ thần kinh giao cảm.

2. Các phương thức thải nhiệt ở da

2.1. Bức xạ nhiệt

Sự mất nhiệt do bức xạ là sự mất nhiệt dưới dạng các tia hồng ngoại, thuộc loại sóng điện từ. Một người không mặc áo quần, ở nhiệt độ phòng, có lượng nhiệt mất bằng cách bức xạ chiếm 60%.

2.2. Dẫn nhiệt trực tiếp

Là sự truyền nhiệt từ da sang các vật tiếp xúc có nhiệt độ thấp hơn như ghế, giường, nền nhà … Sự mất nhiệt bằng phương pháp này chỉ chiếm 3% ở nhiệt độ phòng.

Là sự truyền nhiệt đối lưu từ thân thể sang không khí. Ở nhiệt độ phòng, sự mất nhiệt vào không khí bằng đối lưu chiếm 15%.

2.4. Cất cánh hơi nước

Cất cánh hơi là phương thức thải nhiệt đặc biệt ích lợi cho thân thể khi nhiệt độ môi trường cao hơn nhiệt độ da. Một gram nước cất cánh hơi trên mặt da sẽ lấy đi 0,58 kcal nhiệt. Phương thức cất cánh hơi giúp thải 22% lượng nhiệt trong điều kiện nhiệt độ phòng. Thân thể có 2 loại cất cánh hơi nước là :

Xem Thêm  Top 17 kết quả tìm kiếm cách làm ảnh đại diện video mới nhất 2022

–   Cất cánh hơi không cảm thấy : Này là sự cất cánh hơi qua da và mặt phẳng hô hấp, khoảng 450-700 ml/ngày. Sự cất cánh hơi này không thể kiểm tra bởi hệ thống điều nhiệt.

   

Cất cánh hơi mồ hôi : Trong điều kiện nóng hoặc vận cơ mạnh, tuyến mồ hôi sẽ bài tiết

 nhiều mồ hôi. Mồ hôi sau thời điểm được tiết ra phải được cất cánh hơi thì mới có tác dụng chống nóng. Vì vậy, trong điều kiện khí hậu nóng, nếu độ ẩm cao sẽ rất khó chịu. Trong điều kiện cực kỳ nóng, mồ hôi có thể được bài tiết 1,5 lít/giờ. Sự cất cánh hơi mồ hôi có lợi là làm thải nhiệt nhanh nhưng có thể làm cho thân thể mất nước và muối.

Nhiệt độ thân thể được điều hoà bởi cơ chế feedback thần kinh.

1. Khái niệm về điểm chuẩn (set-point) 

Điều hoà thân nhiệt là quá trình thân thể điều chỉnh, cân đối cường độ sinh nhiệt và thải nhiệt sao cho nhiệt độ trung tâm duy trì gần điểm chuẩn 37oC. Khi nhiệt độ thân thể tăng cao hơn mức này, vận tốc thải nhiệt cao hơn sinh nhiệt để mang thân nhiệt trở về 37oC. Trái lại, khi thân nhiệt giảm dưới điểm chuẩn, vận tốc sinh nhiệt sẽ cao hơn thải nhiệt.

2. Các nơ-ron vùng trước chéo thị giác-dưới đồi trước

Vùng trước chéo thị giác-dưới đồi trước có nhiều nơ-ron nhạy cảm nóng và một ít nơ-ron nhạy cảm lạnh. Những nơ-ron này có tính năng như những cảm ứng nhiệt để kiểm tra thân nhiệt.

Khi vùng này bị kích thích nóng sẽ gây tăng tiết mồ hôi và giãn mạch da giúp chống nóng, đồng thời các quá trình sinh nhiệt cũng bị ức chế. Vì vậy, nó cũng được xem là một trung tâm điều nhiệt.

3. Các receptor nhiệt ở da và tổ chứ¢

Các receptor nhiệt ở da bao gồm receptor nhận cảm lạnh và nóng, trong đó receptor nhận cảm lạnh nhiều hơn gấp 10 lần.

Các receptor nhiệt còn tìm thấy ở các tổ chức bên trong thân thể như tuỷ sống, khoang bụng và quanh tĩnh mạch lớn. Nó cũng phát hiện lạnh là hầu hết. Tuy nhiên khác với receptor ở da, nó tiếp xúc với nhiệt độ trung tâm hơn là nhiệt độ ngoại vi.

4. Vùng dưới đồi sau – Tích hợp các tín hiệu

Các tín hiệu nhận cảm nhiệt ngoại biên tham gia điều nhiệt hầu hết là thông qua vùng dưới đồi. Vùng mà các tín hiệu này kích thích nằm ở hai bên rìa của vùng dưới đồi sau. Các tín hiệu nhiệt trung ương từ vùng trước chéo thị giác-dưới đồi trước cũng được truyền về vùng dưới đồi sau. Tại đây, toàn bộ các tín hiệu nhận cảm nhiệt được tổng hợp lại để kiểm tra quá trình sinh nhiệt và giữ nhiệt của thân thể giúp điều hoà thân nhiệt.

5. Các cơ chế thỏa mãn

Khi các trung tâm điều nhiệt của vùng dưới đồi phát hiện được thân nhiệt quá nóng hoặc quá lạnh, nó sẽ điều khiển các quá trình sinh nhiệt và thải nhiệt sao cho thích hợp.

–   Giãn mạch da : Có thể xảy ra ở nhiều vùng của thân thể làm da đỏ ửng. Giãn mạch xảy ra do sự ức chế trung tâm giao cảm (gây co mạch) ở vùng dưới đồi sau.

–   Cất cánh hơi mồ hôi : Khi nhiệt độ thân thể cao hơn 37oC, vận tốc thải nhiệt do cất cánh hơi mồ hôi sẽ tăng nhanh. Sự bài tiết mồ hôi được điều khiển bởi thần kinh giao cảm (nơ-ron giao cảm này tiết acetylcholine thay vì norepinephrine).

–   Giảm sinh nhiệt : Ức chế sự run cơ và sự sinh nhiệt hoá học.

–   Co mạch da : Do trung tâm giao cảm ở vùng dưới đồi sau bị kích thích. Co mạch có tác dụng giảm mức mang nhiệt từ trung tâm thân thể ra da nên giảm thải nhiệt.

–   Phản xạ dựng lông : Kích thích giao cảm gây nên phản xạ dựng lông có giá trị chống lạnh ở loài thú. Loài người không thể dựng lông nhưng khi lạnh sẽ có hiện tượng sởn da gà. Hiện tượng này không có giá trị chống lạnh, nó là vết tích của phản xạ dựng lông.

– Tăng sinh nhiệt :

+ Run cơ : được điều khiển bởi trung tâm run cơ nằm ở phần sau vùng dưới đồi. Bình thường nó bị ức chế bởi các tín hiệu từ vùng trước chéo thị giác-dưới đồi trước nhưng trở nên hoạt động khi nhận tín hiệu lạnh từ da và tuỷ sống.

+ Sinh nhiệt hoá học do tác dụng giao cảm : sự kích thích giao cảm hoặc norepinephrine và epinephrine trong máu có thể làm tăng ngay nhanh chóng vận tốc chuyển hoá tế bào. Này là sự sinh nhiệt hoá học, xảy ra do tác dụng khử song hành quá trình phosphoryl hoá-oxy hoá, kết quả là chỉ tạo nhiệt mà không tạo dựng ATPSoftware. Sự sinh nhiệt hoá học còn liên quan chặt chẽ với một loại mỡ nâu chịu sự chi phối của thần kinh giao cảm.

+ Sinh nhiệt hoá học do tăng tiết thyroxine : thyroxine làm tăng sinh nhiệt hoá học do tăng chuyển hoá tế bào. Trong thực nghiệm, người ta nhận thấy sự tăng chuyển hoá này không xảy ra ngay mà phải cần vài tuần để tuyến giáp phì đại và tiết nồng độ thyroxine thích ứng. Sự thỏa mãn của tuyến giáp so với lạnh ở người vẫn chưa được biết rõ. Tuy nhiên, những người vùng địa cực có chuyển hoá cơ bản cao dị thường.

VI.

 Một số rối loạn thân nhiệt

1. Sốt

Sốt là trạng thái tăng thân nhiệt xảy ra do điểm chuẩn bị nâng lên cao hơn bình thường. Khi đó, các thỏa mãn tăng thân nhiệt xuất hiện và mang thân nhiệt tăng trưởng bằng điểm chuẩn mới gây nên sốt.

Chất gây sốt ngoại sinh bao gồm các sản phẩm giáng hoá, độc tố của vi khuẩn hoặc toàn thể một vi sinh vật.

Chất gây sốt nội sinh là các cytokin được tiết ra từ bạch cầu mono, đại thực bào, bạch cầu hạt trung tính, bạch cầu lympho… Các chất gây sốt nội sinh thường được tiết ra khi các tế bào trên thực bào hoặc nhận diện các chất gây sốt ngoại sinh. Chất gây sốt nội sinh thường gặp là interleukin-1. Interleukin-1 xúc tiến nơ-ron vùng dưới đồi tiết prostaglandin E2, và chính chất này đã thúc đẩy làm tăng điểm chuẩn của vùng dưới đồi. Bản thân nội độc tố vi khuẩn cũng có thể trực tiếp gây tăng tạo prostaglandin E2 ở vùng dưới đồi.

Khi khởi đầu cơn sốt sẽ có các dấu hiệu như ớn lạnh, co mạch, run. Khi hết cơn sốt thì giãn mạch, ra mồ hôi.

2. Say nóng

Là tình trạng tăng thân nhiệt khi nhiệt độ môi trường quá cao, vượt quá khả năng thải nhiệt. Nếu môi trường không khí khô và có gió đối lưu thì thải nhiệt do cất cánh hơi còn thuận tiện. Nếu độ ẩm 100% thì với nhiệt độ không khí 34oC đã có thể làm tăng thân nhiệt.

Khi bị say nóng, thân nhiệt lên đến 40,5-42oC. Triệu chứng là hoa mắt, choáng váng, da nóng và đỏ, có thể mê sảng và ngất xỉu. Nặng thì có thêm sốc tuần hoàn.

Say nắng là một dạng của say nóng có thêm tia bức xạ của mặt trời.

3. Sự tiếp xúc của thân thể với môi trường cực lạnh

Một người bị rơi vào nước có băng trong vòng 20-30 phút sẽ chết do rung thất, ngừng tim. Khi đó, thân nhiệt  giảm xuống còn 25oC.

Khi thân nhiệt giảm xuống dưới 34oC thì khả năng điều nhiệt của vùng dưới đồi sẽ bị suy yếu và khi thân nhiệt còn 29oC khả năng này sẽ bị mất hoàn toàn. Trước tiên, nạn nhân sẽ buồn ngủ và sau này là mê man.

–   Lạnh cóng : những phần thân thể phơi ra lạnh có thể bị đông lại gọi là lạnh cóng, hay gặp ở dái tai, đầu ngón tay, chân. Có thể mang đến tổn thương vĩnh viễn là hoại tử.

–   Giãn mạch do lạnh : khi nhiệt độ tổ chức giảm xuống mức có thể gây đông, mạch máu đột nhiên giãn ra dấu hiệu bằng đỏ da. Hiện tượng này giúp bảo vệ khỏi bị lạnh cóng.  


Xem thêm những thông tin liên quan đến đề tài thân nhiệt của các loài vật

Vì sao nhiệt độ thân thể loài người luôn ở mốc 37 độ ₵?

  • Tác giả: Cơ Thể Con Người
  • Ngày đăng: 2021-09-27
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 6573 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Dù nhiệt độ ngoài trời nóng đến hơn 50 độ ₵ hay lạnh đến -50 độ ₵, thì nhiệt độ thân thể loài người vẫn luôn ổn định quanh mốc 37 độ ₵. Bạn có biết vì sao lại như vậy không?

    Khái niệm “nhiệt độ trung bình của cơ thể con người” xuất hiện vào năm 1868, khi một bác sỹ người Đức tên là Reinhold August Wunderlich sử dụng nhiệt kế đo thân nhiệt của hơn 25.000 người bệnh, thu hơn 1 triệu kết quả và xác nhận rằng nhiệt độ trung bình của toàn bộ những người này đều là 37 độ ₵. Từ đó cho đến nay, mức nhiệt độ này được xem là dấu mốc để các bác sỹ tiên đoán và xác nhận tình trạng sức khỏe của một người. У học hiện đại cũng coi nhiệt độ thân thể là một trong 4 dấu hiệu sinh tồn trọng yếu nhất nhận xét sự sống, 3 yếu tố sót lại là mạch, huyết áp và nhịp thở. Sự tăng hay giảm thân nhiệt đều thông báo sớm những vấn đề dị thường về sức khỏe.

    Vì sao nhiệt độ thân thể loài người luôn dao động quanh mốc 37 độ ₵?

    Hãy tưởng tượng thân thể loài người là một cỗ máy, mỗi ngày cỗ máy ấy thực hiện hàng ngàn động tác như thở, hít, ăn uống, đi lại, tập thể dục, tư duy, hấp thụ các chất,… Toàn bộ các quá trình vận động và chuyển hóa này đều cần năng lượng và sinh ra nhiệt.

    Các nhà khoa học giải thích rằng với các dạng khí hậu, môi trường sống như hiện tại của trái đất thì nhiệt độ thân thể loài người ở mốc 37 độ ₵ là thích hợp để thích ứng được với mọi loại thời tiết, khí hậu. Mức nhiệt này còn hỗ trợ các đơn vị trong thân thể đạt có năng suất hoạt động cao nhất. Như vậy mức 37 độ ₵ là “tối ưu” trong quá trình tiến hóa của loài người, để phù phù hợp với điều kiện sinh tồn.

    Tương tự loài người, các loài động vật khác trên Trái đất cũng có mốc thân nhiệt ổn định riêng. Ví dụ thân nhiệt của gà vịt là 42,5 độ ₵; mèo 38,8 độ ₵; chó 39,2 độ ₵; bò 39,5 độ ₵; lợn 38-40 độ; thỏ 39,5 độ ₵…

    Làm thế nào để nhiệt độ thân thể loài người luôn thăng bằng ở mốc 37 độ ₵? Bạn biết đấy, cỗ máy thân thể sẽ “bốc cháy” nếu chỉ có sinh nhiệt. Thân nhiệt mỗi người luôn thăng bằng ở mốc 37 độ ₵ là nhờ 2 quá trình sinh nhiệt và mất nhiệt luôn diễn ra đồng thời. Nếu sinh nhiệt xảy ra do quá trình vận động và chuyển hóa thì mất nhiệt là quá trình thân thể thải nhiệt qua da, hơi thở, toát mồ hôi, giãn mạch;.. Cơ chế sinh nhiệt và mất nhiệt hoạt động như một chiếc máy điều hòa, giúp thân thể luôn được “làm mát”.

    Thân nhiệt luôn luôn thay đổi chứ không cố định!

    Điều thú vị là nhiệt độ thân thể loài người luôn có sự biến động. Thông thường nhiệt độ thân thể thấp nhất vào sáng sớm và cao nhất vào chiều muộn. Nhiệt độ thân thể loài người sẽ thay đổi khi bạn bị ốm, tăng trưởng trong và sau thời điểm tập thể dục, hoặc có thể thay đổi theo chu kỳ kinh nguyệt. Trong thời kỳ rụng trứng, nồng độ hormone progesterone tăng trưởng khiến nhiệt độ thân thể cũng tăng theo.

    Nhiệt độ thân thể cũng có xu thế giảm dần theo tuổi tác. Thậm chí nhiệt độ từng vùng trên thân thể cũng có sự khác nhau. Nhiệt độ ở những vùng nằm sâu trong thân thể hoặc những vùng trọng yếu trực tiếp tác động đến các phản ứng sinh học xảy ra trong thân thể (ví dụ như nội tạng) được gọi là thân nhiệt trung tâm. Còn nhiệt độ ở những vùng nằm xa khu vực trung tâm bàn tay, bàn chân,… được gọi là thân nhiệt ngoại vi. Bạn sẽ ngạc nhiên khi biết:
    – Thân nhiệt ở trực tràng (gần ống hậu môn) là ổn định nhất, dao động từ 36,3 – 37,1 độ ₵.
    – Thân nhiệt ở miệng 36,1-36,9 độ ₵; ở nách 35,8 – 36,1 độ ₵; ở trán 33,5 độ ₵; lòng bàn tay 32 độ ₵; và ở mu bàn chân là 28 độ ₵

    Thân nhiệt khác nhau giữa từng vùng trên thân thể là bởi vùng dưới đồi trong não có tính năng điều khiển thân nhiệt sẽ có cơ chế ưu tiên sinh nhiệt cho các đơn vị trung tâm của thân thể như đầu – mặt – nội tạng… Do đó, nhiệt độ ở các vùng trung tâm sẽ ổn định hơn các vùng ngoại vi. Giờ thì bạn đã hiểu vì sao người ta thường đo thân nhiệt tại hậu môn rồi đúng không? Nhiệt độ tại đây ít biến động nhất và cho kết quả chuẩn xác nhất.

    Loài người có thể sốt cao nhất đến bao nhiêu độ?

    Nếu nhiệt độ đo ở miệng cao hơn 37,5 độ ₵ hoặc đo ở hậu môn cao hơn 38 độ ₵ sẽ được xem là sốt. Tuy nhiên 38 độ ₵ không phải là mức nhiệt độ gây nguy hiểm.

    Trong não bộ của người có một trung tâm điều khiển thân nhiệt, có thể tự điều chỉnh giảm phản ứng sốt nếu nhiệt độ tăng trưởng quá cao. Vì vậy, khi bị sốt, mức nhiệt thường tăng trưởng tối đa 40-41 độ. Não bộ rất nhạy cảm với các rối loạn thân nhiệt, vì vậy mức nhiệt độ này có thể kích thích não gây ra các cơn co giật để thông báo hạn chế nguy hiểm (hay còn gọi là hiện tượng co giật do sốt cao). Nếu sốt đến mốc 42 độ ₵, có thể gây tổn thương não bộ. Nếu sốt tăng tới mốc 44 độ sẽ dẫn tới tử vong.

    Thân nhiệt có thể hạ thấp nhất đến mức nào?

    Hạ thân nhiệt là tình trạng nhiệt độ thân thể thay đổi dị thường và hạ xuống thấp dưới 35°₵ khi đo ở hậu môn. Các nhà khoa học đã phân loại:
    – Hạ thân nhiệt nhẹ: 35-34°₵
    – Hạ thân nhiệt trung bình: 34-32°₵
    – Hạ thân nhiệt nặng: 32-25°₵
    – Hạ thân nhiệt nguy kịch: dưới 25°₵. Nếu thân thể ở mức nhiệt này hoặc thấp hơn, loài người có thể tử vong.

    Thế nào, bạn có thấy thân thể loài người kỳ diệu không?

Cơ chế và trung tâm điều hòa thân nhiệt của thân thể

  • Tác giả: healthyeatingforums.com
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 7427 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Người ta mang ra khái niệm điểm đặt của nhiệt khi tiến hành so sánh trung tâm điều nhiệt của thân thể với phòng ban điều nhiệt (hay còn được gọi là

Kể tên những loài động vật có thân nhiệt là hằng nhiệt

  • Tác giả: hoc24.vn
  • Nhận xét: 4 ⭐ ( 5468 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Kể tên những loài động vật có thân nhiệt là hằng nhiệt

Thân Nhiệt Của Các Loài Vật Nào Khác, Thân Nhiệt Của Động Vật

  • Tác giả: tinhte.edu.vn
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 7490 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Thắc mắc :Thế nào là động vật hằng nhiệt, biến nhiệt, Cho ví dụLời giải:* Khái niệmđộng vật hằng nhiệt:là động vật có nhiệt độcủacơ thểluôn ổn định không phụ thuộc vàonhiệt độcủa môi trường

Động vật hằng nhiệt, biến nhiệt là gì? Cho ví dụ.

  • Tác giả: toptailieu.com
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 1148 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Động vật hằng nhiệt: là động vật có nhiệt độ của thân thể luôn ổn định không phụ thuộc vào nhiệt độ của môi trường. Động vật biến nhiệt: Là động vật có nhiệt độ thân thể phụ thuộc vào nhiệt độ của môi trường.

Thân nhiệt thân thể

  • Tác giả: nongnghiep.vn
  • Nhận xét: 5 ⭐ ( 1026 lượt nhận xét )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Vì sao nhiệt độ thân thể luôn giữ ở nhiệt độ 370C. Thân thể loài người có thể chịu được nhiệt độ tối đa là bao nhiêu?

Xem thêm các nội dung khác thuộc thể loại: Thủ thuật máy tính

By ads_php