Tài liệu học PHP căn bản

Cách dùng Layer trong Photoshop là một trong những PM trọng yếu nên việc sử dụng Photoshop là một PM trọng yếu. Vì thế việc làm đó diễn ra như vậy nào thì này là một yếu tố trọng yếu. Vì vậy cách dùng như vậy nào thì tìm tòi những thông tin dưới đây.

1. Tổng quan về Layer

Cho đến giờ đây mọi thứ tất cả chúng ta thực hành đều được thao tác trên Background Layer. Có thể bạn nhận thấy rằng làm việc với Background layer rất không thú vị. Bất kì thao tác nào bạn tiến hành trên Background Layer đều biến đổi nhà cung cấp Pixel của Background & cách duy nhất để Undo là sử dụng History Palette. Khi bạn biết thêm về layer trong PTS, một kỷ nguyên mới của PTS đang mở ra vơi bạn. Vậy! Layer là cái gì?

Bạn có thể tưởng tượng rằng mỗi Layer trong một tài liệu như là một tấm phim trong suốt. Khi bạn vẽ lên bất kỳ một tấm phim nào, bạn vẫn có thể nhìn xuyên qua những vùng chưa được vẽ của tấm phim đó. Khi bạn chồng các tấm phim lên nhau, vùng được vẽ của tấm phim ít hơn vẫn được trổ tài xuyên qua vùng trong suốt của tấm phim ở trên nó. Trong PTS, Layer trong suốt được trổ tài dưới dạng các ô kẻ ca rô trắng & xám (trừ khi file ảnh của các bạn chứa Background). Vùng kẻ carô đó không phải là một phần của văn bản, nó chỉ có công dụng chỉ cho bạn biết này là vùng trong suốt.

Hình bên trổ tài 3 layer chồng lên nhau. Hình người nổi tiếng, con bướm & con cá là bài viết của mỗi layer. Bạn có thể chứng kiến bằng trực giác rằng con cá ở dưới cùng, con bướm ở giữa & người nổi tiếng ở trên cùng. PTS chỉ giải quyết tách biệt từng layer, thành ra bất kì một thao tác trên layer nào, chỉ có công dụng trên layer đó.

Khi bạn mở một file ảnh kỹ thuật số trong PTS, thông thường file ảnh đó được mở với chỉ một Background Layer. Background là một layer đặc biệt, nó không trong suốt & luôn nằm ở dưới cùng của các layer khác. Khi bạn chồng một layer khác lên trên layer background, layer background sẽ trổ tài những vùng chưa được bao bọc của layer nằm trên nó. Layer background có thể được chuyển thành một layer bình bình bằng cách nháy đúp vào tên của nó trong Layer Palette. Bạn có thể đặt tên mới cho nó hoặc dùng tên mặc định bởi PTS. Đặt tên cho một layer là một thói quen nên được học, bởi vì nó giúp bạn xác nhận được các layer trong Layer Palette đơn giản hơn.
Trong PTS, bạn sử dụng Layer Palette để làm chủ những layer trong tài liệu. Bên phải là hình minh hoạ của Layer Palette cho chẳng hạn ở trên.
Bạn sẽ sớm nhận thấy rằng Layer Palette là một trong những thành phần được dùng nhiều nhất trong giao diện của PTS. Thực tiễn, bạn có thể sắp đặt lại Layer Palette của các bạn để tạo thành thêm khoảng trông cho nó. Cá nhân tôi, tôi luôn thu nhỏ những Palette ít được dùng xuống cuối cùng của màn hình, để lại chỗ trống cho History Palette & Layer Palette.

 

 

Layer Palette hiển thị thứ tự của các layer trong tài liệu của các bạn dưới dạng những hình thu nhỏ để giúp bạn xác nhận những layer đơn giản hơn. Như đã nói từ trước, bạn chỉ có thể thao tác từng layer một. Layer đang được kích hoạt sẽ có màu xanh như hình dưới.

Hơn nữa, layer đang kích hoạt sẽ có thêm một biểu tượng “paintbrush” ở bên trái của hình thu nhỏ. Nháy kép vào layer trong Layer Palette cho phép bạn truy nhập Layer Style. Bạn có thể đổi tên cho Layer bằng cách nháy kép vào layer đó.
Bên cạnh Paintbrush của mỗi layer là một hình con mắt nhỏ . Nhấn vào biểu tượng này cho phép bạn tắt hoặc mở layer, bằng phương pháp này bạn có thể tạm thời ẩn một layer đi nếu bạn mong muốn. Dấu một layer cũng không chế không cho in layer đó. Bạn có thể đơn giản ẩn hoặc hiện vài layer trong một hàng bằng cách nháy vào những biểu tượng con mắt của từng layer. Để dấu toàn bộ các layer chỉ trừ một, bạn có thể giữ phím Alt & click chuột vào con mắt của layer mà bạn mong muốn giữ    .
Dù rằng bạn chỉ có thể thao tác trên từng layer một, nhưng có 1 số cách mà có thể thao tác trên một vài layer. Chẳng hạn, di chuyển layer, sao chép layer giữa các tài liệu & căn chỉnh layer. Để thao tác những lệnh này, bạn cần phải backlinks các layer mà bạn mong muốn làm việc với.
Để backlinks vài layer với một layer đang được kích hoạt, bạn phải click chuột vào ô vuông thư hai (giữa biểu tượng con mắt & hình thu nhỏ). Một biểu tượng backlinks sẽ hiện ra trong ô vuông đó để cho thấy rằng layer đó được backlinks. Cũng như biểu tượng con mắt, bạn có thể click chuột vào từng ô của cột để backlinks. Để bỏ backlinks một vài layer chỉ với một cú click chuột, bạn có thể giữ phím Alt & click vào biểu tượng Paintbrush để kích hoạt layer đó. Tất cả chúng ta sẽ học cách di chuyển, sao chép & căn chỉnh layer trong những bài học sau.

Bạn hãy nhìn vào hàng nút ở dưới cùng của Layer Palette. Những nút này (từ trái qua) làm việc với hiệu ứng layer (layer effect), thêm vào Layer Mask, nhóm các layer vào một tập layer (layer set), tạo & bố trí layer, tạo một layer thông thường, & xoá layer. Hiện tại tất cả chúng ta chỉ bạn đến hai nút cuối cùng.
Nếu bạn click chuột vào nút Delete Layer, bạn sẽ được hỏi để xác định rằng bạn thực sự mong muốn xoá nó. Nếu bạn mong muốn xoá một layer mà không cần xác định, nhấp & kéo layer đó trong Layer Palette & thả nó vào biểu tượng thùng rác.

Khi bạn nhấn vào nút New Layer, một layer mới được tạo thành nằm trên layer đang được kích hoạt. Layer mới sẽ được đặt tên theo mặc định là Layer 1, Layer 2 ?.?.. Nếu bạn mong muốn đặt tên cho layer khi bạn tao ra nó, giữ phím Alt khi bạn bấm vào biểu tượng New Layer. Để tạo thành một layer nằm ở dưới layer đang được kích hoạt, giữ phím Ctrl & nhấn vào nút New Layer. Nếu bạn mong muốn cùng một lúc tạo một layer mới nằm dưới layer đang được kích hoạt & đặt tên cho nó, phối hợp Ctrl-Alt & nhấn vào nút tạo layer.

Xem Thêm  - HTML: Ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản - loại đầu vào tệp trong html

Để mau lẹ tạo thành một bản sao của một layer, kéo layer đó từ Layer Paletee & thả nó vào nút New Layer. Layer mới được tạo thành sẽ có tên giống như Layer gốc, nhưng có thêm chữ “copy”. Nếu bạn mong muốn cùng một lúc copy & đặt tên cho nó thì giữ phím Alt khi kéo & thả nó vào nút New Layer.

Để biến đổi địa điểm của các layer, bạn chỉ việc nhấp & kéo nó đến địa điểm mà mình mong muốn trong Layer Palette. Một ô vuông sẽ hiện ra cho bạn biết nơi nào layer sẽ được đặt khi bạn kéo chuột. Xem hình.

Hiện tại tất cả chúng ta hãy tìm tòi tuỳ biến của Layer Palette ở trên cùng của nó.

Để khởi đầu việc thực hành chúng ta nên lưu ảnh đó lại để thực tập.

Với ô Blend Mode có rất là nhiều chức năng, nhưng nếu bạn là một người thích tìm tòi, thì tôi để lại phần đó cho bạn tìm tòi. Vì nói ra cũng khá trừu tượng chi bằng bạn mở một file ảnh & ứng dụng từng cái một để thấy hiệu ứng của nó. Bên cạnh ô Blend Mode là ô điều khiển chính sách Opacity của layer. 100% opacity có nghĩa là layer đó không có tính trong suốt. Trong chẳng hạn bên trái, tôi seting Opacity cho người nổi tiếng là 50%. Cảnh báo đến cách mà những layer ở dưới nó được nhìn xuyên qua. Khi bạn kéo thanh trượt về bên trái, layer đó sẽ mờ dần cho đến khi thanh trượt về địa điểm tận cùng bạn sẽ thấy layer đó mất tăm hoàn toàn.

 
Bạn có thể bố trí mức độ Opacity bằng thanh trượt hoặc điền giá trị số bằng keyboard, chẳng hạn 75 = 75% Opacity. Cảnh báo rằng thanh trượt được ẩn ở mũi tên cạnh giá trị số, nháy vào đó một lần thanh trượt sẽ xuất hiên.

Seting chính sách Opacity là kiểm tra độ trong suốt của layer, ngoài ra, bạn có thể có những mức độ trong suốt khác nhau trên cùng một layer, thậm chí ngay cả khi Layer đó được setup ở mức 100% Opacity. Bạn làm bằng cách dùng dụng cụ Painting tool, Eraser, Layer Mask ?.?.. Có rất là nhiều dụng cụ Painting Tool trong PTS có riếng mức độ Opacity độc lập hoàn toàn với Opacity của layer. Ước ao là những phần trên không làm các bạn rối trí, vì phần tối tất cả chúng ta bàn đến tác dụng của Transparency Lock & nó rất đơn giản gây lầm lẫn.

Bên dưới Blend Mode & Opacity bạn có một loạt các hộp kiểm để khoá nhiều chức năng thao tác.Từ trái qua phải những nút khoá này có tác dụng sau:
transparency, image pixels, position, and all of the above.
Bất kì bao giờ mộ trong các khoá này được kích hoạt, bạn sẽ thấy một biểu tượng cái khoá nhỏ hiện ra bên phải của layer trong Layer Palette. Khi toàn bộ các khoá được kíck hoạt, biểu tượng đó sẽ chuyển sang “đen xì”. Nó sẽ không cho phép bạn biến đổi gì trừ phi Background layer phải được “nâng cấp” thành Layer.
Transparency Lock cho phép bạn thao tác trên một layer nhưng không cho phép bạn biến đổi mức độ trong suốt của layer đó. Cách nhanh nhất để giải thích là bằng chẳng hạn.
Trong file ảnh mà tất cả chúng ta đang làm việc, seting mức độ Opacity cho một layer bất kỳ là 50%.
Hãy lấy một màu (tôi dùng màu xanh lá cây) & Fill layer đó với màu đó.
kết quả là toàn thể layer được tô màu & cho layer đó một mức độ Opacity là 50% xanh trong chẳng hạn của tôi.

 

Hiện tại Undo biến đổi đó & đánh dấu vào hộp kiểm Transparency lock. Tô layer đó với màu của các bạn một lần nữa. Lần này chỉ có một layer được tô màu, & layer này vẫn giữ nguyên giá trị Transparency mà bạn đã tô cho nó là 50%.

Transparency lock ảnh hưởng đến bất kì loại thao tác nào bạn làm trên một layer, bao gồm Painting, Filling & Filter. Để tự thực hành bạn hãy thử hiệu ứng Gausian Blur, & không đánh dấu hộp kiểm Transparency Lock. Sau đó thì Undo & làm lại lần nữa với hộp kiểm Transparency được đánh dấu.

 

Transparency Lock thực chất không khó để hiểu, nhưng nó rất đơn giản gây nhầm lân nếu bạn chọn nó tại một khi nào đó & quên là hộp kiểm đang được đánh dấu. Bất kì bao giờ bạn thấy một dụng cụ nào đó không có những hiệu ứng như bình bình, chúng ta nên kiểm soát xem nó hoặc bất kì những khoá khác đang được kích hoạt hay không trước khi …. cà cuống!

Image Pixel Lock vô hiệu hoàn toàn dụng cụ Painting tool vào layer đó. Bạn vẫn có thể di chuyển & Transform bài viết của layer, bố trí mức Opacity, & biến đổi Blend mode nhưng bạn chẳng thể vẽ trực tiếp lên nó.

Position Lock thì bạn tự tìm tòi lấy. Bạn chẳng thể di chuyển hoặc Transform một layer khi nó bị Position Lock, nhưng bạn vẫn có thể vẽ, ứng dụng Layer Effect & biến đổi Blend Mode

The position lock is self explanatory. You can’t move or transform α layer that has its position locked, but you can still paint on it, apply layer effects, and change blend modes.
& như bạn đoán, cái cuối cùng tương tự với toàn bộ những cái trên khi chúng đều được chọn.

Những PTS phiên bản trước 6.0 đều có hạn chế là 100 Layer, nhưng từ PTS 6.0 trở lên hạn chế đó không còn tiếp, thực chất bạn có thể có tới 8000 layer (bao gồm layer sets & layer effect).

Layer chỉ được giữ gìn khi bạn lưu file ảnh dưới định dạng của PTS là PSD. Khi làm việc với những file ảnh chứa nhiều layer, tốt hơn cả là chúng ta nên lưu 1 bản với định dạng của PTS để sau này còn sửa chữa. Để giảm dung tích của một file & để cho nó tương thích với các trình giải quyết ảnh khác bạn luôn luôn cần lưu nó lại với một định dạng khác tuỳ theo mục đích sử dụng.
Trong PTS 6.0, bạn có thể dùng Save As & file ảnh sẽ bị auto Flatten khi bạn chọn một định dạng khác với định dạng của PSD hoặc PDF. Một nhắc nhở sẽ hiện ra để báo cho bạn biết một vài dữ liệu của bức ảnh sẽ mất nếu một định dạng nào đó không phụ trợ layer.
Hiện tại có một số chương trình phụ trợ định dạng của PTS là PSD, nhưng không phải hoàn toàn vì thế trước khi mở định dạng của PTS trong một áp dụng khác, chúng ta nên dễ dàng hoá các layer càng nhiều càng tốt. Bạn có thể Flatten file ảnh bằng tay hoặc dùng lệnh Merge. Tất cả chúng ta sẽ học về lệnh này trong những bài học sau.

Xem Thêm  HTML Big: Tìm hiểu cách thay đổi kích thước phông chữ trong HTML thành Bigger One - mã html để làm cho văn bản lớn hơn

Chúng ta nên cảnh báo rằng chính sách màu của một file ảnh có thể ảnh hưởng đến sự tương tác giữa các layer. Vì nguyên nhân này, bất kì bao giờ bạn biến định dạng PTS từ một chính sách màu này qua chính sách khác, bạn sẽ được nhắc nhở là phải Flatten file ảnh trước. Bạn có thể tiếp tục mà không cần Flatten nhưng cảnh báo rằng kết quả sẽ biến đổi rất là nhiều lệ thuộc vào layer effect gì & Blending Mode nào mà bạn đã sử dụng. Tất nhiên nếu bạn không thích kết quả đó bạn có thể Undo những biến đổi & Flatten file ảnh trước khi biến đổi chính sách một lần nữa.

2 Di chuyển, Sao chép & Transform layer.

Khi bạn đã khởi đầu làm việc với Layer, một dụng cụ trở nên rất trọng yếu này là Move Tool. Lệnh gõ tắt cho nó là ?. Bạn có thể tạm thời chuyển sang chính sách di chuyển dù cho bất kì dụng cụ nào đang được kích hoạt bằng cách nhấn phím Ctrl. Trường hợp ngoại lệ là Pen Tool, Hand Tool, Slice & Shape Tool trong PTS 6+
Move tool được dùng để di chuyển bài viết của Layer, nhưng nó cũng được sử dụng để chọn layer & sao chép layer. Như toàn bộ các dụng cụ tất cả chúng ta đã từng sử dụng, có một vài tổ hợp phím có thể biến đổi chức năng của Move Tool.
Giữ phím Shift xuống kết phù hợp với Move Tool sẽ giúp bạn di chuyển theo đường thẳng hoặc một góc 45 độ
Giữ phím Alt sẽ cùng một lúc sao chép một layer & di chuyển nó
Bạn có thể phối hợp hai phím Shift & Alt
Bạn có thể thao tác với bài viết của layer với lệnh miễn phí Transform. Lệnh này làm việc không khác gì như nó làm việc với vùng lựa chọn. Khi bạn trong chính sách miễn phí Transform, một vùng bao quanh sẽ hiện ra xoay quang bài viết của layer & bạn có thể di chuyển, biến đổi tỉ lệ, xoay chuyển, “làm méo”, “làm lệch” & xoay ngược bài viết của layer bằng cách dùng phối hợp chuột & keyboard. Khi layer được backlinks, Transformation sẽ ứng dụng cho toàn bộ các layer, dù cho chỉ có mỗi layer đang được kích hoạt có hộp bao quanh.

Khi bạn chọn Move tool, vùng tuỳ biến của Move tool hiện ra
trên Option Bar.

Bạn sẽ nhận thấy 1 hộp kiểm cho phép ẩn hoặc hiện vùng bao quanh ở layer được kích hoạt. Nó tạo cho vùng lựa chọn auto đơn giản hơn vì bạn có thể chứng kiến chuẩn xác layer nào đang được kích hoạt, thậm chí khi Layer Palette của các bạn bị ẩn. Nó cũng khá thuận lợi cho bạn để chuyển sang chính sách miễn phí Transform, chỉ việc rê con trỏ đến một trong những điểm của hộp bao quanh & gọi lệnh Transformation. Khi bạn chuyển sang chính sách miễn phí Transformation, bạn sẽ nhận ra hộp bao quanh chuyển từ những đường chấm chấm thành màu đen, & thanh Option Bar cho phép bạn điền giá trị số vào để ứng dụng Transformation. Để seting Transformation & thoát khỏi Transformation, nháy đúp vào hộp bao quanh, nhấn phím Enter ở vùng keyboard số (máy desktop) hoặc bấm vào dấu ttiick ở Option Bar. Để thoát khỏi chính sách miễn phí Transform mà không seting Transform, nhấn Esc trên keyboard hoặc dấu “X” trong Option bar.

Từ PTS 6+ bạn sẽ nhận thấy một số nút được thêm vào trên Option Bar cho Move Tool. Những nút này sẽ là màu xám trừ khi bạn có hơn 2 layer backlinks với nhau.

Nếu Move Tool được kích hoạt & bạn nháy chuột phải vào layer, bạn sẽ thu được một danh mục xuất hiện nó cho phép bạn chọn các layer tại điểm của con trỏ của các bạn. Hãy thử với một file ảnh của các bạn bằng cách nháy chuột phải vào bất kì điểm nào của file ảnh. Tất nhiên điều này chỉ hữu ích khi bạn đặt tên cho từng layer một cách logic & bạn cũng cần thành lập một thói quen đặt tên cho layer mỗi khi tạo một layer mới.

Sau đây là một số lệnh gõ tắt:
Alt-chuột phải chọn layer ở trên cùng ngay dưới con trỏ.
Giữ phím Alt & nhấn một trong hai phím [ và ] cho phép bạn di chuyển theo thứ tự từ trên xuống dưới của các layer. Dấu ngoặc trái [ di chuyển xuống, ] di chuyển lên.
Alt-shift-[ chọn layer cuối cùng
Alt-Shift-] chọn layer trên cùng.
Những lệnh này cũng có trong Layer > Arrange Submenu
Move Tool cũng có thể được sử dụng để sao chép layer từ một tài liệu này sang một tài liệu khác bằng cách kéo & thả. Bạn chỉ việc kéo một layer từ một tài liệu này sang một tài liệu khác PTS sẽ auto sao chép layer đó ở địa điểm mà bạn thả chuột. Để sao chép một layer từ tài liệu này sang tài liệu khác & căn chỉnh ở giữa, giữ phím Shift trong lúc bạn kéo & thả. Nhưng với một ngoại lệ: nếu hai tài liệu có cùng một địa điểm như nhau, giữ phím Shift trong lúc kéo layer PTS sẽ sao chép layer tại điểm mà khi nó ở tài liệu được sao chép. Chẳng hạn có 2 tài liệu ? & Ɓ, tài liệu ? chứa bài viết nghiêng về bên trái. Khi bạn kéo & thả bài viết từ ? sang Ɓ & giữ phím Shift, bài viết của ? sẽ trổ tài chuẩn xác như khi nó ở ?.

Cũng chính vì lẽ này mà có những phương pháp nhỏ rất tiện lợi mà tất cả chúng ta chẳng lúc nào cần kích hoạt layer hoặc sử dụng Move Tool. Nếu bạn đang mở 1 hộp thoại tài liểu mới & bạn mong muốn tài liệu mới có kích cỡ giông như tài liệu đang được mở, bạn có thể vào Window > Document > New window, PTS sẽ auto cho bạn một cửa sổ mới có kích cỡ chuẩn xác với cửa sổ đang được mở. Bí quyết này cũng có thể dùng được với Image Size & Canvas Size.

Quay lại với Layer & Move Tool bạn cũng có thể sao chép Layer giữa các tài liệu bằng cách kéo & thả chúng từ Layer Palette vào cửa sổ của tài liệu đang được mở. Bên cạnh đó, nếu bạn mong muốn sao chép vài layer một lúc, bạn phải backlinks những layer này lại & kéo & thả chúng từ một cửa sổ của tài liệu này & thả chúng vào tài liệu khác bằng dụng cụ Move Tool. Bạn chẳng thể kéo & thả nhưng layer được link từ Layer Palette.

Đó chỉ là một trong những trường hợp khi bạn mong muốn link các layer. Có những lúc bạn mong muốn link một vài layer khi bạn mong muốn Merge chúng với nhau. Điều này có thể được thực hiện bằng lệnh Merge Linked trong Layer danh mục. Lệnh tắt của Merge layer là Ctrl-E
cảnh báo Version 6.0+
Trong PTS 6 có thêm một chức năng mới được gọi là Layer Set. Với Layer Set bạn có thể nhóm các layer lại với nhau để tránh sự lộn xộn trong Layer Palette & có thể thao tác một vài layer cùng một lúc. Nó có công dụng cũng giống như link các Layer, nhưng có nhiều chức năng hơn bởi vì bạn có thể nhân đôi Layer Set.
Nếu bạn mong muốn link các layer khi bạn cần căn chỉnh & phân tách chúng. Điều này cho phép bạn bố trí địa điểm của layer tương quan với những layer khác.

Xem Thêm  Cuộn lên đầu trang bằng JavaScript / jQuery - js cuộn lên đầu trang

Tôi mong muốn giới giới thiệu ngắn gọn với bạn một vài điểm đặc thù tiên tiến khác của layer. Tôi sẽ không đi quá sâu & vấn đề, nhưng tôi mong muốn cùng bạn thực hành với nó, bởi vì sau này tất cả chúng ta sẽ sử dụng đặc tính này trong những bài học sau.

Layer > Group with Previous (nhóm với layer trước)Câu lệnh Group with Previous ở dưới Layer Danh mục cho phép bạn sử dụng một layer này như là mạng che (Mask) cho layer khác. Khi bạn khái niệm một nhóm cắt, layer ở thấp nhất của nhóm sẽ trở thành mạng che cho những layer khác trong nhóm.

Một áp dụng trọng yếu của việc nhóm các layer là khi bạn mong muốn viết chữ vào một file ảnh hoặc tô màu. Bạn có thể lựa chọn text & dán vào nó, nhưng khi dòng Text đó chẳng thể sửa chữa được nữa. Với bài tập này, tôi đã tạo nên một tài liệu với nền là màu trắng, Rainbow Gradient layer, một layer text ẩn & một layer text. Lưu file đó lại rồi mở nó ra trong PTS. Bạn sẽ Fill dòng text với dụng cụ Gradient & ứng dụng Texture. (Khi bạn mở file này trong PTS 6, bạn có thể thu được một nhắc nhở là một vài layer cần cập nhật. Chọn Cập nhật nếu bạn thu được nhắc nhở)

Do layer ở tận cùng luôn là layer bị cắt, trước nhất bạn cần chuyển layer text xuống dưới Gradient & Texture Layer.
Sử dụng Layer Palette để kéo những layer trong trật tự từ trên xuống dưới:
Texture
Rainbow
Photoshop
Background
Kế tiếp kích hoạt Rainbow Gradient Layer, chọn Layer > Group with Previous hoặc Ctrl – ₲
Dòng chữ được tô với Gradient
Kích hoạt Texture Layer bằng cách kích chuột vào tên của nó
Nhóm layer này bằng lệnh Ctrl – ₲, (một cách nữa để nhóm 2 layer là nhấn phím Alt rồi kích chuột trái vào khoảng biên giữa của hai layer trong Layer Palette)
Tại thời điểm này layer Texture bị chắn bởi Gradient vì thế nó là màu trắng đen. Tất cả chúng ta sẽ sử dụng Layer Blending Mode để đổi layer Texture thành màu cầu vồng. Đổ Blending Mode của Texture Layer thành Luminosity.
Hiện tại bạn đã sở hữu dòng chữ được ứng dụng Texture, dòng chữ màu vẫn có thể cân chỉnh được.

 

Bạn đã khởi đầu thấy sự kỳ diệu của layer trong PTS chưa? cứ điềm tĩnh, đây chỉ mới là điểm bắt đầu.

Layer Masks rất giống với Quick Mask hoặc Alpha Channel, nhưng chúng chỉ được link với một layer đơn lẻ. Chúng có thể được cân chỉnh & được giữ lại với tài liệu của các bạn khi bạn lưu nó trong định dạng của PTS. Layer Mask có thể xuất phát từ lúc mở tài liệ hoặc ứng dụng từ một vùng đã được lựa clieej. Layer Mask rất rất hữu ích bởi vì nó cho phép bạn ứng dụng tính trong suốt lên một layer mà không phá huỷ mãi mãi layer. Miễn là Layer Mask được link với một layer, tỉ lệ phân tách của layer mask có thể được ẩn hoặc hiện mà không tác động gì tới layer bạn đầu. Layer mask là dụng cụ lý tưởng để đê tạo những bức ảnh hỗn hợp & dựng phim

Adjustment Layers là dạng layer đặc biệt, chúng được dùng để bố trí những layer nằm ở dưới. Đa phần những thứ ở dưới Image Adjust danh mục cũng có thể được ứng dụng bằng cách dùng Adjustment Layer. Sử dụng Adjustment Layer có một lợi nhuận độc đáo. Bởi vì …. vì nó có thể bố trí được (Adjustable). Nói cách khác, nếu bạn ứng dụng Hue/Saturation Adjustment vào một file ảnh, & sau đó bạn nghĩ lại nhưng biến đổi có lẽ nhiều quá, bạn có thể nháy kép vào Adjustment Layer & quay lại với chính sách setup. Thêm vào nữa, Adjustment layer được tạo thành trên layer mask, vì thế bạn có thể xoá Adjustment từ vùng được lựa chọn bằng cách Paint vào vùng Adjustment layer với màu đen. Vẽ vào Adjustment layer với màu xám cho phép bạn làm nhạt phai adjustment.

Layer Effects là những hiệu ứng đặc biệt mà có thể ứng dụng vào layer. Một điều tuyệt vời của layer effect là chúng tuyệt đối có thể cân chỉnh & rất linh hoạt. Bạn có thể biến đổi bài viết của một layer & layer effect sẽ auto biến đổi vì bài viết của layer đó biến đổi. Bạn cũng có thể bố trí rất là nhiều đặc tính của layer effect. Layer effect được nhóm trong 1 hộp thoại chung gọi là “Layer Styles”, hãy tự tìm tòi nó xem có bao nhiêu chức năng?

Photoshop 6 Fill Layers là một chức năng duy nhất của PTS 6+. Fill Layer có thể chứa một màu đặc, Gradient hoặc Pattern. Khi bạn kiến trúc một layer như là một fill layer, vùng được fill có thể được biến đổi đơn giản bằng cách nhấn vào biểu tượng của nó trên layer Palette. Fill layer cũng có Layer mask đính kèm, vì thế fill layer chẳng thể bị tẩy xoa, chỉ bằng phương pháp vẽ lên layer mask.

>>Có thể bạn quan tâm:

<<<< Tìm hiểu thêm tại đây >>>> 

Học kiến trúc đồ họa tại hà nội

khóa học kiến trúc đồ họa in ấn tại hà nội

học photoshop tại hà nội

học lập trình php tại hà nội

học wordpress tại hà nội

học html css bootstrap tại hà nội

Tag: học kiến trúc đồ họa, học kiến trúc đồ họa tại hà nội, học kiến trúc đồ họa photoshop, học photoshop, học lập trình php, học wordpress tại hà nội, học html css bootstrap tại hà nội, khóa học photoshop tại hà nội, khóa học kiến trúc đồ họa tại hà nội, khóa học lập trình php tại hà nội.

Mọi thông tin bạn có thể liên hệ:

Huấn luyện lập trình & kiến trúc đồ họa

Hotline: 0968.853.958 hoặc phụ trợ kỹ thuật Mr. trung: 0947.499.221

 

Viết một bình luận