Thuyết minh về cuộc đời và sự nghiệp thơ ca của Nguyễn Trãi

Cuộc đời và sự nghiệp thơ ca của Nguyễn Trãι

  • Mở bài:

Nguyễn Trãi là một nhà thơ, nhà văn lỗi lạc, nhà quân sự tài ba, là vị người hùng kiệt xuất của dân tộc. Ông là một đại diện hùng hồn cho khí phách và tinh hoa của dân tộc ta. Công lao quý hiếm nhất và sự nghiệp vĩ đại nhất của thiên tài Nguyễn Trãi là tấm chân tình yêu nước, yêu dân tha thiết và sự nghiệp đánh giặc cứu nước vô cùng vẻ vang mà ông đã trọn đời theo đuổi. Dẫu cuộc đời phải chịu nhiều oan trái, tên tuổi của Nguyễn Trãi mãi mãi là niềm tự hào to lớn của nhân dân ta.

  • Thân bài:

1. Cuộc đời đầy xấu số và vẻ vang của Nguyễn trãi:

Nguyễn Trãi sinh năm 1380 mất năm 1442, quê ở làng Nhị Khê, Thường Tín, Hà Tây. Ông là con của Nguyễn Phi Khanh, cháu ngoại tướng công Trần Nguyên Đán. Xuất thân sang trọng đã tạo cho Nguyễn Trãi chí khí hơn người. Chính điều đó đã hỗ trợ ông vượt mặt biết bao khổ sở và tạo lập sự nghiệp vĩ đại sau này.

Từ nhỏ, dẫu mẹ mất sớm, Nguyễn Trãi đã cố công chăm sóc học hành để nối nghiệp tiên tổ. Năm 1400, ông đỗ Thái học viên và ra làm quan với cha dưới thời hồ Quý Ly. Năm 1407 giặc Minh xâm lăng nước ta, cha bị giặc bắt mang về Trung Quốc, ông cũng đi theo chăm chút. Nghe lời cha, ông trở về quê nhà tìm kế cứu nước, báo thù. Trở về, Nguyễn Trãi bị giặc giam lỏng tại thành Đông Quan. Khi nghe tin ở vùng Lỗi Giang, đất Lam Sơn có Lê Lợi đang chiêu binh khởi nghĩa, Nguyễn Trãi mau lẹ trốn khỏi Đông Quan, vào Lam Sơn yết kiến và dâng “Bình Ngô sách” lên Lê Lợi, sau đó trở thành vị quân sư “viết thư thảo hịch tài giỏi hơn hết một thời”.

Năm 1428, ông thay lời Lê Lợi soạn thảo “Bình Ngô đại cáo”, bố cáo toàn thiên hạ về sự nghiệp đánh giặc Minh cứu nước vẻ vang của nghĩa quân Lam Sơn, mở ra một thời đại thái bình, thịnh trị của quốc gia. Sau đó, ông được cử làm Chánh chủ khảo khoa thi tiến sĩ trước hết của triều Lê và viết chiếu cầu hiền mời gọi hiền sĩ ra giúp nước. Chẳng bao lâu sau, ông bị bầy nịnh thần đè ép, gièm pha khiến nhà vua không còn tín nhiệm. Quá buồn bực,Nguyễn Trãi xin về Côn Sơn, gửi gắm niềm tâm sự vào thơ ca. Năm 1440, ông lại được vua vời ra giúp nước. Được tin dùng, ông lại đem hết tâm sức ra giúp nước, giúp dân, làm ra không biết bao nhiêu điều tốt đẹp.

Thế nhưng, oan nghiệt thay, đang tận lực phụng sự triều đình thì tai họa lại xảy ra so với gia đình nguyễn Trãi. Năm 1442, nhà vua sau thời điểm đi kinh lý, ghé thăm Nguyễn Trãi ở Côn Sơn, đã bỏ mạng ở Vườn Lệ Chi. Lợi dụng việc này, bầy gian thần đã vu khống khiến toàn bộ gia đình Nguyễn Trãi bị kết án tru di tam tộc trong vụ án Lệ Chi Viên. Đây có thể coi là oan án lớn nhất và thảm khốc nhất trong lịch sử phong kiến nước ta.

Đến năm 1464, vua Lê Thánh Tông sau thời điểm đã suy xét, đã xuống chiếu minh oan cho ông và tìm kiếm con cái của Nguyễn Trãi sót lại cho ra làm quan, chấm dứt những tháng ngày sống lẩn khuất

Nguyễn Trãi là một nhà văn hoá lớn, có đóng góp lớn lao vào sự lớn mạnh của văn học và quan niệm viet nam. Ông nằm trong mục lục 14 người hùng dân tộc viet nam. Nguyễn Trãi đang là một thiên tài lỗi lạc nhưng có cuộc đời đầy oan khuất. Ông quả thật là người hùng, là khí phách, là tinh hoa của dân tộc. Công lao quý hiếm nhất và sự nghiệp vĩ đại nhất của Nguyễn Trãi là tấm chân tình yêu nước yêu dân tha thiết và sự nghiệp đánh giặc cứu nước vô cùng vẻ vang của ông.

Với ái tình nước thương dân nồng nàn, tha thiết, ông đã đem hết tâm hồn, trí tuệ, tài năng phục vụ lợi nhuận của dân tộc trong trào lưu khởi nghĩa Lam Sơn. Quan niệm chính trị quân sự ưu tú và tài ngoại giao kiệt xuất của Nguyễn Trãi đã dẫn đường cho trào lưu khởi nghĩa Lam Sơn đi tới chiến thắng. Tố chất thiên tài của Nguyễn Trãi là sản phẩm của trào lưu tranh đấu gan dạ của dân tộc trong một cao điểm của lịch sử. Thiên tài ấy đã để lại một sự nghiệp lớn về nhiều mặt mà tất cả chúng ta còn phải tiếp tục đọc thêm mới có thể nhận xét đầy đủ và chuẩn xác được. Dầu sao, nếu chỉ xét về mặt văn hóa thì cũng có thể cam đoan rằng Nguyễn Trãi đã cắm một cột mốc trọng yếu trên đoạn đường tiến lên của dân tộc viet nam, nhất là ngành nghề văn học.

2. Sự nghiệp văn học phong phú và khổng lồ của thi hào Nguyễn Trãi:

Nguyễn Trãi để lại nhiều tác phẩm văn học có giá trị, toàn bộ các tác phẩm nảy trổ tài phẩm chất trung quân ái quốc của ông. Nhiều tác phẩm trở thành áng văn bất hủ trong kho báu văn học dân tộc, đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Có thể kể ra một số tác phẩm như: “Bình Ngô dại cáo”, “Dư địa chí “, “Lam Sơn thực lực”, “Phú núi Chí Linh”, “Quốc âm thi tập”, “Ức Trai thi tập”…

Thơ ca của Nguyễn Trãi trổ tài quan niệm nhân nghĩa, yêu nước và thương dân sâu sắc. Thương dân, trừng trị kẻ có tội (điếu phạt) hủy diệt quân tàn ác hại nước hại dân (trừ bạo), đem đến yên vui, hạnh phúc cho nhân dân (yên dân), này là việc nhân nghĩa:

“Việc, nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”.

Sức mạnh nhân nghĩa là sức mạnh viet nam để thắng lợi thù trong giặc ngoài. Này là “Đại nghĩa” (nghĩa lớn vì nước vì dân), là lòng “chí nhân” (thương người vô hạn):

“Đem đại nghĩa để thắng hung dữ,
Lấy chi nhân để thay cường bạo”.

Lòng phẫn nộ giặc sôi sục, quyết không đội trời chung với quân “cuồng Minh”:

“Ngẫm thù lớn há đội trời chung,
Căm giặc nước thề không cùng sống”.

Quan niệm nhân nghĩa của ức Trai luôn luôn nối liền với lòng “trung hiểu” và niềm “ưu ái” (lo nước, thương dân):

“Bui có một lòng trung lẫn hiếu
Mài chàng khuyết, nhuộm chăng đen”.

“Bui một tấc lòng ưu ái củ,
Đêm ngày cuồn cuộn nước triều Đông”.

Văn thơ Nguyễn Trãi trổ tài ái tình thắm thiết so với thiên nhiên, với với quê hương, gia đình. Ông dành ái tình lớn so với cây cỏ hoa lá, trăng nước mây trời, chim muông…

“Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc
Thuyền chở yên hà nặng vạy then”.

Ông yêu quê hương, gia đình thiết tha:

“Quê cũ nhà ta thiếu của nào
Rau trong nội, cá trong ao”.

 Ông yêu thích và tự hào danh lam thắng cảnh quốc gia :

“Một vùng biếc sẫm gương lồng bóng,
Muôn hộc xanh om tóc mượt màu”.

Ông sống một cuộc đời thanh bạch, một tâm hồn thanh cao, khiết tịnh:

“Một tấm chân tình son ngời lửa luyện.
Mười năm thanh chức ngọc hồ băng”.

Nếu thơ ca của Nguyễn Trãi mèm mại, uyển chuyển thì văn chính luận như “Bình Ngô đại cáo” lại rất hùng hồn, giọng điệu đanh thép, lí luận sắc sảo, đúng là tiếng nói của một dân tộc thắng lợi, một quốc gia có nền văn hiến lâu đời. Thơ chữ Hán thì súc tích, tinh luyện, thâm trầm. Thơ chữ Nôm hết mực mộc mạc mà tài hoa, thiết tha đằm thắm. Thơ thất ngôn xen lục ngôn là một dấu ấn kì quái của nền thơ chữ Nôm dân tộc. Lần trước hết trong lịch sử, Nguyễn Trãi đã một bước phá vỡ tan tành luật thơ Đường Luật vốn thâm căn cố đế bao đời.

Nguyễn Trãi đã có những bước bộc phát trong cách tân chuyên mục thất ngôn bát cú Đường luật và mở ra một thời đại lớn mạnh huy hoàng của chữ Nôm, đánh dấu một móc son chói loại của nền thi ca dân tộc.

3. Nhận xét về cuộc đời và sự nghiệp Nguyễn Trãi:

Nguyễn Trãi suốt đời sống trong sạch, suốt đời một lòng vì nước vì dân. Trở về với nông thôn, ông yên lòng và tự hào: “Quê cũ nhà ta thiếu của nào, Rau trong nội, cá trong ao”. Cấy cày là niềm vui: “Một cày một cuốc thú nhà quề, Áng chúc lan chen vãi đậu kê”. Người dân bùn lấm đáng được nhớ ơn: “Ăn lộc đền ơn kẻ cấy cày”. Cuộc đời giản dị, nghèo mà thanh: “Bữa ăn dầu có dưa muối, Áo mặc nài chi gấm là”, “Hài cỏ đẹp chân đi đủng đỉnh, Áo bô quen cật vận xềnh xoàng”, xa lánh chốn lợi danh thâm hiểm: “Co qoe thay bấy ruột ốc, Khúc khuỷu làm chi trái hòe”. Ông ca ngợi cụ thể của tùng, trúc, mai, ba cây không chịu khuất phục trước giá lạnh mùa đông và ông luôn giữ một tấm chân tình trong sạch, một tấm “lòng thơm”.

Lòng thơm ấy là lòng yêu nước thương dân. Có khi ông gọi này là “lòng trung hiếu”, “lòng ưu ái”. Nó suốt đời sôi nổi: “Bui có một lòng trung liễn hiếu, Mài chăng khuyết, nhuộm chăng đen”, “Bui một tấc lòng ưu ái cũ, Đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông”. Nó dựa theo lý tưởng nhân nghĩa. Nhân nghĩa là một quan niệm cao qúy xuyên thấm cuộc đời và thơ văn ông. So với ông, nhân nghĩa là “yên dân”, “trừ bạo” hay “Trừ độc, trừ tham, trừ bạo ngược”. Được như thế mới thực sự “Có nhân, có trí, có anh hùng”. Nhân trí, người hùng ấy thuộc lòng yêu nước cao thượng của ông, yêu nước bằng quan niệm, thiện cảm, bằng hành động cứu nước lo dân tuyệt vời. Nói rõ ràng như : “cái nhân, cái nghĩa lớn nhất là phấn đấu đến cùng chống ngoại xâm, diệt bạo tàn, vì độc lập của nước, hạnh phúc của dân”. Quốc gia bị ngoại xâm, nó hiện thành lòng lòng phẫn nộ giặc cao độ và ý chí kiên cường, gang thép hủy diệt quân thù: “Căm giặc nước thề không cùng sống”, “Nếm mật nằm gai, há phải một sớm hai tối, Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh”. Quân giặc quét sạch rồi, nó là khát khao xây dựng một quốc gia phồn thịnh, nhân dân đời đời ấm no hạnh phúc..

– Nguyễn Trãi – Bậc đại người hùng dân tộc, nhân vật toàn tài của lịch sử viet nam. Ở Nguyễn Trãi là một nhà chính trị vĩ đại, một nhà quân sự tài ba, một nhà ngoại giao lỗi lạc, một nhà văn, một nhà thơ kiệt xuất. Năm 1980, Nguyễn Trãi được tổ chức Dạy bảo, Khoa học và Văn hoá của Liên hợp quốc (UNESCO) thừa nhận là Danh nhân văn hoá toàn cầu và tổ chức kỷ niệm 600 năm năm sinh của ông.

  • Kết bài:

Nguyễn Trãi là bậc người hùng lỗi lạc, một nhà văn hóa vĩ đại, là đại thi hào kiệt xuất dân tộc, một nhân vật toàn tài hiếm hoi, danh nhân văn hoá toàn cầu. Một nhân loại phải chịu những oan khiên thảm khốc nhất trong lịch sử cơ chế phong kiến viet nam. Nguyễn Trãi đang là ông tiên ở trong lầu ngọc thi ca mà tâm hồn lộng gió niên đại. Cuộc đời và thơ văn Nguyễn Trãi là bài ca yêu nước, tự hào dàn tộc.

Đọc qua:

Mở bài:

Nguyễn trãi là một nhà thơ, nhà văn, nhà quân sự, nhà chính trị lỗi lạc của dân tộc ta; là danh nhân văn hóa toàn cầu. Ông để lại cho đời một sự nghiệp văn học khổng lồ. Trong số đó nổi vị trí thứ nhất là tập “Quân trung từ mệnh tập” – một tập đại thành về văn nghệ đánh giặc và áng văn “Bình Ngô đại cáo” – một thiên cổ hùng văn nức tiếng đến muôn đời. Thế nhưng, cuộc đời của Nguyễn Trãi cũng là một cuộc đời phi thường và nghiệt ngã bấy lâu chưa từng có. (Thuyết minh về Nguyễn Trãi)

  • Thân bài:

Nguyễn Trãi sinh năm 1380 mất năm 1442, hiệu là Ức Trai, quê ở Chí Linh, tỉnh Hải Dương, sau dời đến làng Nhị Khê, huyện Thường Tín, Hà Nội.

* Nguyễn Trãi thời đại đi học:

Ông là con thứ của Nguyễn Phi Khanh, một đại quan triều Hồ. Gia tộc ông có truyền thống hiếu học, lại nổi tiếng nghĩa khí, cương trực, luôn trợ giúp và bảo vệ dân lành. Truyền thống tốt đẹp ấy gây tác động sâu sắc so với tài năng và tính cách của Nguyễn Trãi sau này.

Tròn 6 tuổi, mẹ mất, ông phải về Côn Sơn ở với ông ngoại Trần Nguyên Đán. Năm 1390, Trần Nguyên Đán cũng qua đời, Nguyễn Trãi theo cha trở về sống ở làng Nhị Khê, Hà Nội. Tuổi thơ Nguyễn Trãi là một giai đoạn thanh bần nhưng ông vẫn quyết chí gắng công học hành. Ông nổi tiếng là một người học rộng, có tri thức rộng về nhiều ngành nghề, có ý thức về nghĩa vụ của một kẻ sĩ yêu nước thương dân. Nhà sử học Phan Huy Chú từng đánh giá Nguyễn trãi tuổi trẻ đã văn chương nổi tiếng. Kinh sử, bách gia, binh thư thao lược, ông đều tinh thông cả.

* Nguyễn Trãi thời đại làm quan:

Năm 1400, nhà Hồ thành lập và mở khoa thi Nho học, Nguyễn Trãi tham gia và đỗ Thái học viên. Năm đó ông đứng thứ tư, được trao chức Ngự sử đài Chính chưởng.

Năm 1407, nhà Minh xâm lược nước ta. Hồ Quý Ly do khinh địch, không kịp phòng bị, lại không được lòng dân nên kháng chiến thất bại. Nguyễn Phi Khanh, cha Nguyễn Trãi, cùng rất nhiều quan lại khác bị tóm gọn giải về Trung Quốc. Nguyễn Trãi cùng người em đi theo chăm chút cha. Nghe lời cha dặn, Nguyễn Trãi tìm đường trở về, tính kế trả thù cứu nước.

* Nguyễn Trãi thời mười năm phiêu bạt tìm đến núi Lam Sơn, quyết tâm đánh giặc cứu nước:

Khi trở về nước, Nguyễn Trãi quyết chí phục thù, đánh giặc cứu cha. Ông rong ruổi khắp mọi nơi vừa để lảng tránh bị tóm gọn vừa mong gặp người hiền tài, mời gọi những ai cùng chung ý chí đứng lên chống giặc.

Năm 1416, nghe tiếng Lê lợi, một người người hùng có chí lớn đang chiêu binh, ông tìm đến cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, dâng cho Lê Lợi tác phẩm Bình Ngô sách. Ông mau lẹ được Lê Lợi thâu nhận và trọng dụng. Từ đó, ông đồng hành với trào lưu khởi nghĩa Lam Sơn.

Chẳng những gia nhập xây dựng đường lối quân sự, chính trị thích hợp, Nguyễn Trãi còn cáng đáng những bổ phận trọng yếu như soạn thảo thư từ địch vận, tham mưu, vạch ra kế hoạch chiến thuật cho nghĩa quân. Ông góp sức rất lớn tạo thành những thắng lợi vang dội của nghĩa quân Lam Sơn.

Năm 1428, kháng chiến thành công, ông được Lê Lợi giao cho soạn bài cáo Bình Ngô. Từ đó, ông làm quan dưới triều Lê, góp công xây dựng, lớn mạnh quốc gia kiên cố. Thời đại làm quan thăng trầm trôi nổi. Nhiều lúc nhìn thấy kẻ tà đạo thần lộng hành mà ông can gián vua không nghe, bất mãn ông xin từ quan ở ẩn một thời gian ở núi Côn Sơn.

Khi Lê Thái Tôn lớn lên, thấu hiểu Nguyễn Trãi, nhà vua đã cho vời ông trở lại làm quan. Vua cho ông giữ chức Tả gián nghị đại phu. Rất mừng rỡ, ông viết bài Biểu tạ ơn hết sức xúc động và lại hăng say ra giúp nước, chấn chỉnh kỷ cương, huấn luyện nhân tài.

Năm 1442, một lần ghé thăm gia đình Nguyễn Trãi ở vườn Lệ Chi, vua Lê Thái Tôn chẳng may bỏ mạng. Lợi dụng sự việc này, bầy gian thần vốn bấy lâu ganh ghét Nguyễn Trãi đã vu cho ông tội giết vua và nhận án bị tru di tam tộc. Đây là một kì án thảm khốc nhất trong lịch sử phong kiến nước ta. Mãi 20 năm sau, vua Lê Thánh Tông mới giải được hàm oan này, khôi phục lại danh dự cho Nguyễn Trãi.

* Đánh giá chung:

Cuộc đời Nguyễn Trãi là cuộc đời chiến tranh không ngừng nghỉ. Ông cương quyết chiến tranh chống bạo lực xâm lược và chống phi nghĩa. Quan niệm nhân nghĩa là đỉnh cao chói lóa trong thơ ông. Quan niệm xem văn chương là vũ khí chiến tranh trổ tài rõ trí tuệ tỉnh táo của một thiên tài và bản lĩnh của một chiến sĩ quả cảm.

Cuộc đời Nguyễn Trãi cho tất cả chúng ta bài học quý báu về trí não nhân đạo, ân cần chiến tranh, quan niệm mạnh bạo cải tiến, ý tưởng. Trên nền tảng của thực tế và kinh nghiệm chiến tranh của các niên đại, Nguyễn Trãi đã xây dựng cho mình những quan niệm chuẩn xác về khởi nghĩa và chiến đấu chống xâm lược.

Nguyễn Trãi còn ứng dụng rất thành công thuật tâm công (đánh vào tâm lí) trong cuộc chiến chống kẻ địch. Bởi ông nắm rõ tâm lí của nhân loại, hiểu rõ quy luật vận động của nó, sự biến chuyển của thời cuộc, nên đã có những lời lẽ đi thằng vào lòng người làm ra những đổi thay lớn lao theo khuynh hướng mà ông mong chờ. Bộ Quân trung từ mệnh tập được Phan Huy Chú nhận xét có sức mạnh hơn mười vạn quân là cũng bởi chính vì vậy. Có thể nói, Nguyễn Trãi là người trước hết đặt nền tảng cho quan niệm chiến đấu nhân dân.

* Sự nghiệp văn học Nguyễn Trãi:

Nguyễn Trãi để lại rất là nhiều trước tác văn chương, cả bằng chữ Hán và chữ Nôm, bao gồm các ngành nghề văn học, lịch sử, địa lý, pháp luật, lễ nghi…

* Văn chính luận:

Bình Ngô đại cáo là bài cáo kết luận toàn thể công cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược của nghĩa quân Lam Sơn. Có thể nói, công lao lớn trước hết của Nguyễn Trãi trên ngành nghề quan niệm là lần trước hết trong lịch sử dân tộc và cũng tương đối sớm so với lịch sử toàn cầu, Nguyễn Trãi đã cam đoan một cách khỏe khoắn và đanh thép sự tồn tại của dân tộc viet nam. Này là quyền độc lập dân tộc, quyền dân tộc tự quyết và quyền bảo tồn lớn mạnh nền văn hoá của dân tộc viet nam.

Quân trung từ mệnh tập là tập sách gồm những văn thư do Nguyễn Trãi thay mặt Lê Lợi gửi cho các thủ lĩnh các cứ, các tướng tá nhà Minh trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, từ năm 1423 đến năm 1427. Bài viết chính là trình bày quan niệm, cam đoan lập trường, nhận định thời thế, mời gọi chiêu hàng.

Lam Sơn thực lục là quyển lịch sử ký sự ghi chép về công cuộc 10 năm khởi nghĩa Lam Sơn. Quyển này Nguyễn Trãi kết phù hợp với các sử quan triều đình biên soạn theo lệnh của Lê Thái Tổ năm 1431

Văn bia Vĩnh Lăng do Nguyễn Trãi soạn năm 1433, kể lại thân thế và sự nghiệp của Lê Thái Tổ.

* Địa lý

Dư địa chí là cuốn sách về địa lý học cổ nhất sót lại của viet nam.

* Thơ phú:

Ức Trai thi tập là tập thơ bằng chữ Hán của Nguyễn Trãi, gồm 105 bài thơ. Tập thơ trổ tài sâu sắc phong cách thanh cao và trí não cứng cỏi của một bậc đại Nho.

Quốc âm thi tập là tập thơ bằng chữ Nôm duy nhất của Nguyễn Trãi và cũng là tập thơ chữ Nôm trước hết của nền văn học viet nam. Cho đến nay, tập thơ này được lưu truyền và bảo tồn khá nguyên vẹn, trở thành nguồn tư liệu quý hiếm trong công tác tìm hiểu chữ Nôm.

Chí Linh sơn phú là bài phú bằng chữ Hán, kể lại sự kiện nghĩa quân Lam Sơn rút lên núi Chí Linh lần thứ ba vào năm 1422.

Băng Hồ di sự lục là thiên tản văn bằng chữ Hán do Nguyễn Trãi làm vào năm 1428, kể về cuộc đời ông ngoại Trần Nguyên Đán.

không chỉ thế, Nguyễn Trãi còn tồn tại một số tác phẩm khác như Ngọc đường di cảo, Thạch khánh đồ, Luật thư, Giao tự đại lễ nhưng đều không sót lại đến ngày nay.

  • Kết Bài:

Trong tâm trí thế hệ các con cái từ bây giờ và mai sau, người nổi tiếng Khuê Nguyễn Trãi mãi mãi còn chiếu sáng, mãi mãi là một vị người hùng dân tộc, trổ tài trong ông ý chí bất khuất, tỉnh táo của một vị cố vấn trọng yếu, một thi sĩ tài ba, một nhà ngoại giao và là nhà kế hoạch quân sự xuất sắc. Nguyễn Trãi là sản phẩm của dân tộc, là sự kết tinh của tinh hoa dân tộc và niên đại, là người tuyên bố quan niệm lí tưởng lớn của niên đại. Sự nghiệp và tác phẩm của Nguyễn Trãi là một bài ca yêu nước và niềm tự hào của dân tộc viet nam.

Dàn bài tóm lược: Cuộc đời và sự nghiệp của thiên tài Nguyễn Trãi

Ι. Cuộc đời Nguyễn Trãi.

1. Gia đình:

– Nguyễn Trãi (1930 – 1442) hiệu là Ức Trai. Ông quê gốc ở Chi Ngại Chí Linh – Hải Dương sau dời về Nhị Khê – Thường Tín – Hà Tây. Nguyễn Trãi là con trai của Nguyễn Phi Khanh và bà Trần Thị Thái, cháu ngoại của quan Tư đồ Trần Nguyên Đán. Ra đời trong một gia đình có hai truyền thống lớn: yêu nước và văn hoá, văn học.

2. Tiến trình trưởng thành:

– Tuổi thơ Nguyễn Trãi có nhiều xấu số: 5 tuổi mất mẹ; 10 tuổi, ông ngoại qua đời.

– Sống trong niên đại có nhiều biến động dữ dội:

+ 1400 thi đỗ Thái học viên (Tiến sĩ), ra làm quan với nhà Hồ.
+ Năm 1407, giặc Minh cướp nước ta, cha bị tóm gọn mang về trung Quốc, Nguyễn Trãi gạt lệ chia ly khắc sâu lời cha dặn: lập chí, rửa nhục nước, trả thù nhà mới là đại hiếu.
+ Thoát khỏi sự giam lỏng của giặc ở Đông Quan, Nguyễn Trãi theo Lê Lợi làm ra thắng lợi ở Lam Sơn, Thanh Hoá
+ 1407 – 1420 : 10 năm thoát tay giặc, nương tựa trong dân, tìm đường cứu nước. Sống giản dị, thân thiện với nhân dân lao động. Đây là tiền đề cho quan niệm “dựa vào dân” (lấy dân làm gốc): Nhân nghĩa là yên dân, trừ bạo.
+ 1420 : Nguyễn Trãi tìm đến Lê Lợi dâng Bình Ngô sách.
+ 1427 : Nguyễn Trãi viết thư, thảo hịch dụ hàng quân địch (Vương Thông)
+ 1428 : Thừa lệnh Lê Lợi, Nguyễn Trãi viết “Bình Ngô đại cáo”
+ 1431 – 1438 : buồn rầu vì không được tin dùng.
+ 1439 : xin về ở ẩn ở Côn Sơn.
+ 1440 : vua Lê Thái Tông mời làm việc (chủ khảo kì thi tiến sĩ)
+ 1442 : bị mắc vào án oan Lệ Chi Viên, dẫn theo việc bị tru di tam tộc (họ cha – mẹ – vợ)

⇒ Có thể nói rõ về vụ án Lệ Chi Viên khơi gợi sự thương xót Nguyễn Trãi – bậc kỳ tài, trung quân.

– 1464 : vua Lê Thánh Tông xuống chiếu minh oan cho Nguyễn Trãi: “Ức Trai lòng dạ sáng sao Khuê”.
– 1980 được UNESCO thừa nhận là danh nhân văn hoá toàn cầu

⇒ Nguyễn Trãi là bậc người hùng dân tộc, một nhân vật toàn tài hiếm hoi, danh nhân văn hoá toàn cầu. Một nhân loại phải chịu những oan khiên thảm khốc nhất trong lịch sử cơ chế phong kiến viet nam.

II Sự nghiệp thơ văn:

1. Những tác phẩm chính :

Nguyễn Trãi là Author xuất sắc về nhiều chuyên mục: quân sự, chính trị, ngoại giao, văn hoá, văn học bằng chữ Hán, Nôm

* Tác phẩm viết bằng chữ Hán :

– Quân trung từ mệnh tập (quân sự – ngoại giao),
– Bình Ngô đại cáo (chính trị – lịch sử),
– Chí Linh sơn phú,
– Băng Hồ di sự lục,
– Văn bia Vĩnh Lăng,
– Lam Sơn thực lục (lịch sử ),
– Dư địa chí (bộ sách Địa lí cổ nhất viet nam),
– Ức Trai thi tập (Thơ ca)…

* Tác phẩm viết bằng chữ Nôm: Quốc âm thi tập (254 bài)

2. Nguyễn Trãi – nhà văn chính luận kiệt xuất :

– Tác phẩm chính: Quân trung từ mệnh tập, Bình ngô đại cáo, chiếu biểu (thời Lê)…
– Quan niệm cốt yếu xuyên suốt trong các áng văn chính luận : quan niệm nhân nghĩa, yêu nước thương dân → luận điểm then chốt.
– Văn chính luận của ông đạt tới trình độ văn nghệ mẫu mực, bố cục mịch tích, lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, chứng cớ rõ ràng, giọng điệu linh động (khi hào hùng, khi ôn tồn)…

3. Nguyễn Trãi – nhà thơ trữ tình sâu sắc :

* Hai tập thơ “Ức Trai thi tập”“Quốc âm thi tập” ghi lại hình ảnh Nguyễn Trãi vừa là người người hùng vĩ đại vừa là nhân loại dương gian.

α. Chân dung trí não của người người hùng vĩ đại:

– Lí tưởng người hùng: nhân nghĩa hòa phù hợp với yêu nước thương dân.

“Bui một tấm chân tình ưu ái cũ
Đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông”

(Thuật hứng 2)

– Nhân loại bình bình hoà quyện với nhân loại người hùng. Phẩm chất, ý chí người người hùng: khỏe khoắn kiên trung, vì dân vì nước chiến tranh chống ngoại xâm và chống cường quyền bạo ngược. Vd : Tự thán 40, Tùng.

ɓ. Nhân loại dương gian :

– Nỗi đau thế sự, ái tình thương nhân loại. Vd : Tự thuật – bài 9.
– Tình ái thiên nhiên, quê hương, quốc gia. Vd : Bảo kính cảnh giới – bài 26.
– Nghĩa vua tôi, tình cha con sâu nặng. Vd : Ngôn chí – bài 7
– Tình bạn hữu sáng trong. Vd : “Lòng bạn trăng vằng vặt cao”

⇒ Qua thơ, thấy được vẻ đẹp nhân bản của người người hùng Nguyễn Trãi với những thiện cảm mộc mạc sâu sắc.

4. Văn nghệ:

– Sáng kiến thơ lục ngôn (6 tiếng)
– Việt hoá thơ Đường
– Hình ảnh thơ thân thuộc, thân thiện, mộc mạc
– Cảm hứng tinh tế

⇒ Các tác phẩm thơ Nôm của Nguyễn Trãi là bông hoa đầu mùa đẹp tuyệt của thơ Nôm viet nam (Lê Trí Viễn)

  • Kết bài:

Văn chương Nguyễn Trãi quy tụ hai nguồn cảm xúc lớn của văn học dân tộc là yêu nước và nhân đạo. Nêu cao chủ nghĩa yêu nước : ca ngợi cuộc chiến tranh vì độc lập dân tộc, vì đạo lí chính nghĩa. Trổ tài trí não nhân đạo: quan niệm nhân nghĩa, yên dân trừ bạo. Nguyễn Trãi có đóng góp lớn về chuyên mục và ngôn từ. Về chuyên mục, ông tạo thành những áng văn chính luận xuất sắc, mở đường cho thơ Nôm Đường luật lớn mạnh. Ông cũng là người mang ngôn từ tiếng Việt trở thành ngôn từ giàu và đẹp.

Xem Thêm  Cách chỉnh sửa HTML với TextEdit trên máy Mac - textedit có thể được sử dụng cho html

Viết một bình luận