Thuyết minh về tác giả Nguyễn Trãi ngắn gọn – Dàn ý và 5 bài mẫu

Bài tập làm văn thuyết minh về tác giả Nguyễn Trãi lớp 10 bao gồm dàn ý thuyết minh về tác giả Nguyễn Trãi và các bài văn mẫu chắt lọc. Ước ao ebook này sẽ giúp các bạn học viên viết tốt bài văn thuyết minh về tác giả Nguyễn Trãi.

Dàn ý thuyết minh về tác giả nguyễn trãi

Ι. Mở bài thuyết minh về tác giả Nguyễn Trãi

– Nguyễn Trãi người người hùng của dân tộc được cả toàn cầu biết tới.
– Một nhà quân sự nổi tiếng có công sáng lập ra nhà Hậu Lê và cũng là nhà thơ lớn.
– Cuộc sống ông có nhiều điều uất ức và bi tráng nhưng ông để lại nhiều giá trị văn học cho hậu thế.

II. Thân bài thuyết minh về tác giả Nguyễn Trãi

1. Cuộc sống & sự nghiệp của Nguyễn Trãi

– Nguyễn Trãi (1380-1442), hiệu Ức Trai, quê gốc ở Hải Dương.
– Nguyễn Trãi là con của gia đình có truyền thống yêu nước, văn học.
– Vào năm 1400, Nguyễn Trãi đỗ Thái học viên, cả cha và con đều làm quan.
– Năm 1407, nhà Hồ khởi nghĩa thất bại, giặc Minh chiếm nước ta, cha ông là Nguyễn Phi Khanh bị tóm gọn sang Trung Quốc, còn ông Nguyễn Trãi gia nhập nghĩa quân Lam Sơn kháng chiến chống giặc.
– Vào những năm 1428, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn giành thắng cuộc trước quân Minh, đó cũng là thời gian mà ông viết “Bình Ngô đại cáo”.
– Chỉ sau thời gian ngắn, triều đình lục đục, ăn gian lộng hành, ông xin về ở ẩn.
– Vua mời ông ra phụ giúp việc nước nhưng vào năm 1442 ông dính vào vụ án Lệ chi Viên nổi tiếng, gia đình 3 đời bị xử trảm.
– Vụ án Lệ Chi Viên vụ án oan trong lịch sử và được vua Lê Thánh Tông minh oan vào năm 1464.
– Nguyễn Trãi được minh oan và trong sạch để lại tiếng thơm muôn đời.
– Nguyễn Trãi chính thức trở thành danh nhân văn hóa toàn cầu vào năm 1980.

2. Đóng góp vào văn học của Nguyễn Trãi

– Chẳng những là nhà quân sự, Nguyễn Trãi có không ít những đóng góp trọng yếu vào văn học đương thời và có giá trị đến hiện tại.
– Nguyễn Trãi nhiều tác phẩm nổi tiếng văn chính luận, thơ trữ tình. Các tác phẩm của ông được viết bằng chữ Nôm và chữ Hán.
– Ông là nhà thơ xuất sắc với các tập thơ: “Ức Trai thi tập”, “Quốc âm thi tập”.
– Ông là nhà chính luận nổi tiếng: “Quân trung từ mệnh tập”, “Bình Ngô đại cáo”, các chuyên mục chiếu…
– Các tác phẩm của ông đều trổ tài lòng yêu nước, thương dân, lý tưởng nhân nghĩa. Thơ trữ tình của ông chân thật, giản dị và thân thiện với thực tiễn.

III. Kết bài thuyết minh về tác giả Nguyễn Trãi

– Nguyễn Trãi xứng đáng là anh hùng dân tộc, nhà thơ, nhà văn hóa lớn của niên đại.
– Cuộc sống của ông để lại nhiều đau thương, bị thảm nhưng tiếng thơm muôn đời và sự kính phục của thế hệ sau.

Bài văn mẫu thuyết minh về tác giả nguyễn trãi

Thuyết minh về tác giả Nguyễn Trãi – bài 1

Nguyễn Trãi là người tận trung ái quốc, yêu mến quê hương quốc gia thiết tha, là nhà quân sự tài ba, là nhà văn nhà thơ lỗi lạc. Nguyễn Trãi đúng là một đại văn hào của dân tộc, có nhiều đóng góp lớn cho dân tộc nhưng lại là người chịu nhiều xấu số oan uổng nhất trong lịch sử phong kiến nước ta.

Nguyễn Trãi hiệu Ức Trai,sinh năm 1380 và mất năm 1442, quê ở Nhị Kê ( Hà Tây ), phụ vương là Nguyễn Phi Khanh, phụ mẫu là Trần Thị Thái, cháu ngoại của Trần Nguyên Đán, là người có xuất thân từ dòng dõi quý tộc. Ông là người thông minh từ nhỏ, rất cần mẫn học, năm 1400 ông đỗ Thái học viên. Cuộc sống của Nguyễn Trãi trải qua rất là nhiều thăng trầm, lên 6 tuổi mẹ tạ thế, ông đỗ Thái học viên vào năm 20 tuổi. Hai cha con cùng ra làm quan với nhà Hồ. Năm 1407, giặc Minh tràn sang cướp nước ta, Nguyễn Phi Khánh bị tóm gọn sang Trung Quốc, Nguyễn Trãi đi theo chăm chút cha. Sau đó ông đã trở về và làm ra thắng lợi cho dân tộc vào 10 năm sau đó.
Sau khoảng thời gian quốc gia trở lại yên bình, chán chường với chốn quan trường, ông đã xin về ở ẩn. Đến năm 1440 Lê Thái Tông mời ông ra giao việc lớn. Ông đã hỗ trợ vua rất là nhiều trong việc trị vì quốc gia. Mọi chuyện đang diễn ra rất tốt đẹp thì nhà vua chết bất đắc kỳ tử, lũ gian thần vu cho ông mưu mô giết vua, khép tội chu vi tam tộc 1442. Nguyễn Trãi và dòng họ đã phải đưa nỗi oan nghiệt đó suốt 20 năm và đến năm 1464 Lê Thánh Tông mới giải tỏa nỗi oan này cho Nguyễn Trãi, ban chiếu truy tìm hậu duệ còn xót lại của Nguyễn Trãi và ban cho chức quan.

Hơn thế nữa, Nguyễn Trãi còn để lại cho kho báu văn học dân tộc không ít những tác phẩm có giá trị. Sau khoảng thời gian bị dính vào nghi án giết vua, nhiều tác phẩm tác phẩm của ông từng bị sai khiến tiêu hủy. Sau nhiều năm, những tác phẩm giá trị ấy mới được sưu tầmÔng đã để lại cho kho báu văn học nhiều tác phẩm có giá trị: về quân sự và chính trị, Nguyễn Trãi có ” Quân trung từ mệnh tập” gồm những thư từ và giấy tờ giao thiệp với giặc Minh và triều đình nhà Lê.

“Bình ngô đại cáo ” là áng ” thiên cổ hùng văn ” trong lịch sử, kết luận cuộc kháng chiến mười năm chống quân Minh và mở ra một kỉ nguyên mới cho nước nhà… Về lục sử có ”Lam Sơn thực lục” là cuốn sử về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và ” Dư địa chí ” viết về địa lý nước ta lúc bấy giờ. Về văn học, Nguyễn Trải có ”Ức trai thi tập, Quốc Âm thi tập”. “Quốc Âm thi tập ” được viết bằng chữ nôm, đánh dấu sự tạo dựng của nền thơ ca Tiếng Việt.

Thơ văn Nguyễn Trãi luôn thấm nhuần quan niệm nhân nghĩa, học thuyết thế sự và ái tình thiên nhiên, nổi trội trong thơ văn Nguyễn Trãi là quan niệm nhân nghĩa đưa bài viết yêu nước, thương dân. Ông luôn một lòng nghĩ suy, tìm phương pháp để đem đến sự yên bình cho dân. Ông yêu thiên nhiên và coi thiên nhiên là bầu bạn của mình.

Ông để lại nhiều tác phẩm thơ chữ Hán với toàn cầu thẩm mĩ đa dạng, vừa trữ tình, trí tuệ, vừa hào hùng, hữu tình. Về thơ Nôm, Nguyễn Trãi là người đi đầu và để lại những bài thơ giàu trì tuệ, sâu sắc, thấm đẫm thử nghiệm về cuộc sống, được viết bằng từ ngữ tinh luyện trong sáng, đăng đối một cách cổ kính. Nguyễn Trãi là nhà thơ đã sớm mang tục ngữ vào tác phẩm, ông cũng là người đã ý tưởng cách thức thơ thất ngôn xen lục ngôn, một cách thức khác với Đường Luật. Có thể nói Nguyễn Trãi là một nhân vật tài đức có đủ, trí dũng song toàn trong lịch sự viet nam thời phong kiến.

Nguyễn Trãi đúng là một danh nhân lẫy lừng của dân tộc, ông tạo nền móng cho văn học nước nhà, có công lớn trong việc dựng nước và giữ nước. Ông là người đã dành hết cuộc sống mình để lo cho dân cho nước. Ghi nhớ công lao của Nguyễn Trãi, năm 1980, Nguyễn Trãi được tổ chức Dạy bảo, Khoa học và Văn hóa của Liên minh quốc UNESCO thừa nhận là danh nhân văn hóa toàn cầu.

Thuyết minh về tác giả Nguyễn Trãi – bài 2

Trong nền văn học trung đại, đặc biệt dưới thời vua Lý, Trần, Lê đã hiện ra không ít các tác giả nổi tiếng, và nối liền với tên tuổi của họ là những tác phẩm văn học bất hủ như: Lý Thường Kiệt với “Nam quốc sơn hà”, Trần Quang Khải với “Tụng giá hoànn kinh sư”. Và, có vẻ, trong số các tác giả đó, chưa có ai phải chịu một chết chóc oan uổng như Nguyễn Trãi. Nguyễn Trãi không những được mọi người biết tới với tài năng cùng với rất nhiều tác phẩm thuộc nhiều chuyên mục, ngành nghề mà còn được mọi người khám phá về một cuộc sống sóng gió, đầy trắc trở.

Nguyễn Trãi (1380-1442), hiệu là Ức Trai, quê gốc ở làng Chi Ngại, sau dời về Nhị Khê. Thân sinh là Nguyễn Ứng Long, một nho sinh nhà nghèo, học giỏi, đỗ Thái học viên thời Trần. Mẹ là Trần Thị Thái, con quan Tư đồ Trần Nguyên Đán. Nguyễn Trãi ra đời trong một gia đình mà cả bên nội cũng như bên ngoại, đều có hai truyền thống lớn là yêu nước và văn hoá, văn học. Từ nhỏ, Nguyễn Trãi thông minh, hiếu học, tinh thông đạo lý làm người… Nhưng, ông cũng cần phải chịu những mất mát đau thương: tang mẹ lúc 5 tuổi, sau đó, ông ngoại tạ thế khi Nguyễn Trãi lên 10 tuổi. Năm 1440, Nguyễn Trãi đỗ Thái học viên và cả 2 cha con cùng làm quan dưới triều nhà Hồ. Về sau, khi nhà Hồ sụp đổ, cha ông bị tóm gọn sang Trung Quốc, ông xin đi theo cùng nhưng đến cửa ải, Nguyễn Phi Khanh lại khuyên ông nên quay trở về trả nợ nước, báo thù nhà, và trong cảnh chia lìa đó, cha ông đã làm ra bài thơ “Hai chữ nước nhà” đầy cảm động. Về phần ông, vâng lời cha, ông quay trở về đầu quân cho nghĩa quân Lam Sơn, giúp Lê Lợi đánh đuổi giăc Minh, hợp nhất quốc gia. Ông trao cho Lê Lợi bản kế sách đánh đuổi quân Minh mà sử sách viet nam gọi là Bình ngô sách: “hiến mưu trước lớn, không nói đến việc đánh thành mà lại khéo nói đến việc đánh vào lòng người”, ông thuyết phục Lê Lợi dùng nhân nghĩa so với tướng sĩ, dùng công tâm để lấy thành”. Ông đặt ra 3 phương sách: công tâm là thượng sách, vừa công thành vừa công tâm là trung sách, công thành là hạ sách (3 phương sách này phù phù hợp với 3 đường lối trị nước là đế đạo, vuơng đạo và bá đạo).

Bình Định Vương Lê Lợi phong cho Nguyễn Trãi chức Tuyên phụng Đại Phu Thừa chỉ học sĩ Hàn Lâm Viện. Nguyễn Trãi đặt ra nhiều kế sách, chiến lược cho Lê Lợi. Nhờ có sự đóng góp lớn lao của Nguyễn Trãi mà lập nên được nhiều thắng lợi vẻ vang cho dân tộc.

Xem Thêm  API JavaScript của Maps - cách kiểm soát bản đồ google

Nguyễn Trãi không những là một nhà quân sự đại tài như tất cả chúng ta biết mà ông đang là nhà văn chính luận kiệt xuất với tác phẩm”bình ngô đại cáo” bất hủ. Tiếc thay, với những tài năng như thế, đáng lẽ, Nguyễn Trãi được vua Lê trọng dụng và giải quyết những hoài bão của mình, nhưng càng về sau, ông không được vua Lê trọng dụng nữa. Buồn đau trước cảnh ấy, Nguyễn Trãi đã cáo quan về ở ẩn tại Côn Sơn và hình như định mệnh trớ trêu khéo dùa cợt ông lần nữa, gia đình ông bị tru di tam tộc vì tội hại vua_một nỗi oan lớn của cả niên đại lúc bấy giờ. Thế nhưng, có vẻ trời đất không mong muốn một người tài đức như ông phải chịu một chết chóc oan uổng đén vậy, nên đến thời vua Lê Thánh Tông, nỗi oan của ông được rửa sạch và được vua tặng câu “Úc Trai lòng sáng tựa sao khuê”

Nguyễn Trãi không những là nhà quân sự, nhà văn chính luận mà ông còn nổi tiếng ở nhiều ngành nghề khác nhau, để lại nhiều tác phẩm như: dư địa chí, Lam Sơn thực lục và ông cũng là người trước tiên đặt nền tảng cho nền văn học chữ Nôm nước nhà qua tác phẩm “quân trung từ mệnh tập”, không những thế còn tồn tại tác phẩm “Côn Sơn ca” in trong tập “Ức Trai thi tập”

Qua những tác phẩm sót lại đến nay của Nguyễn Trãi, ta thấy thơ văn ông thấm đậm quan niệm nhân nghĩa, yêu nước, thương dân. Tiêu biểu như “Quân trung từ mệnh tập” , là tập văn chiến có sức mạnh của 10 vạn quân. Sức mạnh ấy có được từ sự phối hợp tuyệt diệu giữa quan niệm nhân nghĩa, quan niệm yêu nước và văn nghệ viết văn luận chiến bậc thầy. “Bình Ngô đại cáo” là áng văn yêu nước lớn của niên đại, là bản tuyên ngôn về độc lập chủ quyền của dân tộc, bản cáo trạng tội ác kẻ địch, bản hùng ca về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và đang là sự hoà quyện giữa sức mạnh của quan niệm nhân nghĩa với quan niệm yêu nước. Bài viết thơ văn Nguyễn Trãi rất đa dạng, đặc biệt so với ái tình quê hương gia đình. Nét trước tiên là niềm tha thiết với thiên nhiên quê hương. Xuất phát điểm từ những cái nhỏ nhặt, tưởng như không đâu nhưng lại chứa chan ái tình thương: bè rau muống, lảnh mùng tơi, cây chuối, cây đa… đều trở thành vần điệu trong thơ Nguyễn Trãi, tạo thành những rung động tinh tế trong lòng người. Ông nói một cách trang trọng mà thật vui tươi, chất phác: “ao cạn vớt bèo cấy muống; trì thanh phát cỏ ương sen”, ông phát xuất hiện một vẻ đẹp rất ngạc nhiên: đêm trăng gánh nước thì gánh luôn cả trăng đem về; khung trời không mây, trong suốt một màu xanh, ông thấy này là một bầu ngọc đông lại; thuyền bè chen nhau gối đầu lên bãi, ông nhìn thành một đám tằm lúc nhúc: “tằm ươm lúc nhúc thuyền đầu bãi”. Ông coi thiên nhiên như một người ban thân của mình, có lúc, ông như hoà mình vào thiên nhiên đến mức tưởng như dòng suối, cục đá phủ rêu, tán trúc như hoà nhập với ông làm một.

Kế tiếp là niềm đồng hành tha thiết với bà con quen thuộc ở quê nhà. Thời còn giặc Minh, nhiều năm, ông phải lẩn tránh khắp mọi nơi, xa nhà, xa quê, xa bà con quen thuộc với bao nỗi rầu rĩ đêm thu, xa nhà bên ngọn đèn đêm khuya, ông day dứt như trong bài “đêm thu đất khách” ông tâm sự: Đêm khuya, bên ngon đèn leo lét, hồn mộng cứ vẩn vơ mãi nơi đất khách. Thanh minh đến theo tục, con cái phải về thăm mồ mả ông bà, sửa sang bồi đắp, thắp nén hương tưởng nhớ cho đúng đạo làm con cái, vậy mà đã bao năm nay, ông không về được, ông chỉ não lòng: “thân mình xa ngàn dặm, mồ mả ông bà ở quê sao không giẫy cỏ thắp hương; 10 năm đã qua, những người ruột thịt, quen thân cũ đã chẳng còn ai; đành mượn tạm chén rượu ép mình uống, không cho lòng cứ ngày ngày xót xa nỗi nhớ quê” (thanh minh_dịch nghĩa)

Cũng chính vì có tâm hồn yêu thiên nhiên, cuộc đời, nhân loại nên Nguyễn Trãi sống một đời trong sạch, một lòng vì dân, vì nước. Khi trở về nông thôn, ông yên lòng và tự hào, ông coi cày cấy là một niềm vui: “một cày một cuốc thú nhà quê”. Những người dân lao động chân lấm tay bùn đáng được tri ân: “ăn lộc, đền ơn kẻ cấy cày”. Cuộc đời Nguyễn Trãi giản dị, nghèo mà thanh, ông truyền tụng kiểu dáng, thuộc tính của tùng, chúc, mai, 3 cây không chịu khuất phục trước gía lạnh của mùa đông, giống như ông, một người luôn giữ tấm chân tình trong sạch, một tấm “lòng thơm”. Lòng thơm ấy là lòng yêu nước thương dân, nó suốt đời sôi nổi, nó dự trên chân lí của tư tưỏng nhân nghĩa_một tư tưỏng cao đẹp xuyên thấm cuộc sống và thơ văn ông. So với Nguyễn Trãi, nhân nghĩa chính là trừ bạo, yên dân.

Nguyễn Trãi quả là một nhân vật vĩ đại trong lịch sử viet nam, ông chính là một vị người hùng dân tộc, một nhà tư tưỏng, nhà thơ, nhà văn hoá lớn của nước ta. Tâm hồn và sự nghiệp của ông mãi mãi là tại sao sáng như vua Lê Thánh Tông đã truyền tụng “Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo”.

Thuyết minh về tác giả Nguyễn Trãi – bài 3

Nói tới Nguyễn Trãi là nói tới một người người hùng dân tộc song song là Danh nhân văn hoá toàn cầu. (*5*) (Phạm văn Đồng).

Nguyễn Trãi (1380 – 1442) hiệu là ức Trai, quê gốc ở Chi Ngại (Hải Dương) sau dời về Nhị Khê (Thường Tín, Hà Nội). Ông xuất thân trong một gia đình có truyền thống yêu nước và văn hoá, văn học. Thân sinh là Nguyễn úng Long (sau đổi là Nguyễn Phi Khanh), một nho sinh nghèo, học giỏi, thi đỗ thái học viên. Mẹ là Trần Thị Thái, con quan Tư đồ Trần Nguyên Đán,
Cuộc sống Nguyễn Trãi trải qua nhiều biến cố thăng trầm: Biến cố trong nhà (mẹ mất lúc 5 tuổi, khi ông 27 tuổi, cha và em bị tóm gọn đày sang Trung Quốc). Biến cố của quốc gia (nhà Hồ lên thay nhà Trần, giặc Minh sang xâm lược, Lê Lợi lập nên triều Hậu Lê, trong thời bình triều đình chia rẽ, rối ren).

Sống trong niên đại bi hùng của lịch sử, cuộc sống Nguyễn Trãi là cuộc sống của một người người hùng lẫy lừng nhưng lại oan khuất và bi kịch nhất trong lịch sử .
Nguyễn Trãi đã sớm khắc sâu nợ nước thù nhà từ lời dặn của cha năm 1407.

Nguyễn Trãi có công lớn trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và quá trình chống giặc Minh. Ông gia nhập khởi nghĩa từ năm 1417 với nhân cách là một quân sư tài ba. Cuối năm 1427, đầu năm 1428, Nguyễn Trãi thừa lệnh Lê Lợi viết Bình Ngô đại cáo. Sau đó, ông hăm hở gia nhập quá trình xây dựng quốc gia.

Nguyễn Trãi không thực hiện được hoài bão của mình trong thời bình. Những tranh chấp nội bộ trong triều đình phong kiến kéo theo việc giết hại các công thần. Nguyễn Trãi tùng bị nghi oan, bị tóm gọn giam rồi được tha. Tình thế ấy buộc ông phải xin về ở ẩn tại Côn Sơn. Chỉ mấy tháng sau, vua Lê Thái Tông lại vời ông ra làm việc. Thật không may, ba năm sau (1442), vua đột tử trong lần đi kinh lí miền Đông. Đàn gian thần nhân thời cơ này đã buộc tội Nguyễn Trãi và khép ông vào tội tru di tam tộc. Năm 1464, Lê Thánh Tông đã minh oan cho Nguyễn Trãi và sưu tầm lại thơ văn của ông.
Ông là một bậc đại người hùng của dân tộc và là người đóng góp thêm phần xây dựng nên lịch sử vẻ vang của triều Hậu Lê. Song song, ông cũng là người chịu oan khuất nhất trong lịch sử. Không những thế, ông đang là nhân vật toàn tài hiếm hoi với nhiều đóng góp nổi trội trong mọi ngành nghề: chính trị, quân sự, ngoại giao, văn hoá, văn học. Năm 1980, ông được UNESCO thừa nhận là danh nhân văn hoá toàn cầu.
Ông là người có sự nghiệp văn chương khổng lồ với đủ các chuyên mục trong sáng tác chữ Hán và chữ Nôm, trong văn chính luận và thơ trữ tình. Những tác phẩm viết bằng chữ Hán có: Quân trung từ mệnh tập, Đại cáo Bình Ngô, ức Trai thi tập, Lam Sơn thực lục, Văn bia Vĩnh Lăng… Sáng tác bằng chữ Nôm có Quốc âm thi tập (254 bài thơ chữ Nôm) viết theo thể Đường luật, Đường luật xen lẫn lục ngôn. Không những thế, ông còn để lại bộ Dư địa chí – một bộ sách cổ nhất về địa lí của nước ta.

Nói Nguyễn Trãi là nhà văn chính luận xuất sắc vì ông để lại một khôi lượng khá lớn các tác phẩm chính luận. Tiêu biểu như: Quân trung từ mệnh tập, Đại cáo Bình Ngô, Chiếu biểu viết dưới triều Lê.

Về giá trị bài viết, những áng văn chính luận của ông có đóng góp lớn cho sự nghiệp chiến tranh và xây dựng quốc gia của triều Hậu Lê. Quân trung từ mệnh tập gồm những thư từ gửi cho tướng giặc và những giấy tờ để giao thiệp với triều đình nhà Minh. Tác phẩm là sự phối hợp sáng ngời của chủ nghĩa yêu nước, nhân nghĩa và văn nghệ viết văn chính luận bậc thầy của Nguyễn Trãi.
Bình Ngô đại cáo được xem là tuyên ngôn độc lập lần thứ hai của dân tộc ta, là bản cáo trạng đanh thép về tội ác kẻ địch, là bản hùng ca về khởi nghĩa Lam Sơn, là áng văn yêu nước của niên đại. Trong số đó, nền móng của những giá trị đó dựa theo quan niệm nhân nghĩa và yêu nước hoà làm một.

Về giá trị văn nghệ, văn chính luận của Nguyễn Trãi cuốn hút ở cấu tạo chặt chẽ, lập luận sắc bén, bút pháp biến đổi linh động tuỳ vào đối tượng và mục đích sử dụng.
Thơ văn Nguyễn Trãi là tâm hồn của ông, trong sáng và đầy sức sống. Cả hai tập thơ Quốc âm thi tập và ức Trai thi tập đã ghi lại hình ảnh Nguyễn Trãi vừa là người người hùng vĩ đại vừa là nhân loại nhân gian.

Xem Thêm  JavaScript ngẫu nhiên - lấy ngẫu nhiên int javascript

Nhân loại người hùng của Nguyễn Trãi trổ tài ở hai góc cạnh: lí tưởng người hùng và phẩm chất người hùng. Lí tưởng người hùng là sự phối hợp nhân nghĩa với yêu nước thương dân. Còn phẩm chất người hùng trổ tài ở sự mạnh khỏe, kiên trung, vì nước, vì dân chiến tranh chống ngoại xâm và chống cường quyền bạo ngược.

Hoà phù hợp với nhân loại người hùng, trong tâm hồn Nguyễn Trãi còn tồn tại nhân loại nhân gian. Nguyễn Trãi đau nỗi đau của nhân loại và yêu ái tình nhân loại. Nguyễn Trãi đau nỗi đau cho mình thì ít mà đau đời thì nhiều. Ông thường xót xa cho thói đời đen bạc: “Phượng những tiếc cao diều hãy liệng/ Hoa thường hay héo cỏ thường tươi”. Ông khát khao một cuộc đời thái bình, thịnh trị cho dân: “Rượu năm ba chén đổi công danh! cầu một ngày coi đời thái bình”.

Tình ái Nguyễn Trãi dành nhiều cho thiên nhiên, quốc gia, nhân loại, cuộc đời. Và đặc biệt, với Nguyễn Trãi: “Lòng yêu thiên nhiên vạn vật là kích thước để đo một tâm hồn” (Xuân Diệu). Thiên nhiên trong thơ chữ Nôm của ông mộc mạc, dân giã tạo thành một môi trường sống thanh cao mà ở đó nhân loại giữ được những vẻ đẹp trong sáng trong tâm hồn: “Quét trúc bước qua dòng suối/ Thưởng mai về đạp bóng trăng”. Ông đến với thiên nhiên như về với người bạn tri kỉ để gởi gắm học thuyết và thiện cảm thân thiết ruột thịt: “Cò nằm hạc lẩn nên bầu bạn/ ú ấp cùng ta làm cái con”. Nguyễn Trãi luôn dành những thiện cảm nồng hậu, ấm áp cho bạn thân, người thân, làng xóm, quê hương…

Có thể nói, góc cạnh nhân loại trong thời người hùng Nguyễn Trãi chính là vẻ đẹp nhân bản đóng góp thêm phần nâng người người hùng dân tộc lên tầm con người.
Nói Nguyễn Trãi là nhà thơ trữ tình kiệt xuất còn bởi ông đã đóng góp cho thơ ca viet nam những thành tích văn nghệ đưa ý nghĩa kết tinh trên cả hai bình diện căn bản là chuyên mục và từ ngữ. Thể thơ thất ngôn xen những câu lục ngôn là những cố gắng lớn của ông trên đoạn đường Việt hoá thơ Đường luật. Ông còn mang vào trong thơ những vật liệu chưng cất từ từ ngữ của đời sông hằng ngày và sử dụng một cách ý tưởng những thi liệu dân gian (ca dao, tục ngữ…).

Nguyễn Trãi là một danh nhân văn hoá lớn của dân tộc. Ông đã biến thành một hiện tượng văn học kết tinh truyền thống văn học Lý – Trần song song mở màn cho một công đoạn lớn mạnh mới. về bài viết: Văn chương Nguyễn Trãi quy tụ hai nguồn xúc cảm là yêu nước và nhân đạo. Nguyễn Trãi đã mang ý thức dân tộc lên đến đỉnh cao kết tinh quan niệm viet nam thời trung đại. về văn nghệ: Nguyễn Trãi là người trước tiên đã đoạt nền tảng cho thơ ca tiếng Việt về hai phương diện từ ngữ và chuyên mục. Ông đã để lại tập thơ Nôm sởm nhất làm di sản thơ Nôm viet nam mới mẻ. Cho đến nay, tất cả chúng ta vẫn tiếp thụ và phát huy những thành tích thơ ca và văn hoá của Nguyễn Trãi.

Nguyễn Trãi còn mãi với thời gian là người người hùng dân tộc kì tài nhưng cũng là người oan khuất nhất trong lịch sử. Nguyễn Trãi vừa là nhà thơ kiệt xuất vừa là danh nhân văn hoá toàn cầu. Thơ chữ Hán cũng như chữ Nôm của ông, chính luận hay trữ tình đều phản ánh vẻ đẹp tâm hồn của một nhân loại vĩ đại và nhân loại đời thường. Ông là bông hoa đầu mùa của thơ Nôm viet nam.

Thuyết minh về tác giả Nguyễn Trãi – bài 4

Trong nền văn học trung đại,đặc biệt dưới thời vua Lý,Trần,Lê đã hiện ra không ít các tác giả nổi tiếng,và nối liền với tên tuổi của họ là những tác phẩm văn học bất hủ như:Lý Thường Kiệt với”nam quốc sơn hà”,Trần Quang Khải với”tụng giá hoànn kinh sư”.Và,có vẻ,trong số các tác giả đó,chưa có ai phải chịu 1 chết chóc oan uổng như Nguyễn Trãi.NgT ko chỉ đc mọi người biết đén với tài năng cùng với rất nhiều tác phẩm thuộc nhiều chuyên mục,ngành nghề mà còn đc mọi người khám phá về 1 cuộc sống sóng gió,đầy trắc trở.

NgT(1380-1442),hiệu là Ức Trai,quê gốc ở làng Chi Ngại,sau dời về Nhị Khê.Thân sinh là NgỨng Long,1nho sinh nhà nghèo,học giỏi,đỗ Thái học viên thời Trần.Mẹ là Trần Thị Thái,con quan Tư đồ Tr Nguyên Đán.NgT ra đời trong 1 gia đình mà cả bên nội cũng như bên ngoại,đều có 2 truyền thống lớn là yêu nước và văn hoá,văn học.Từ nhỏ,NgT thông minh,hiếu học,tinh thông đạo lý làm người…Nhưng,ông cũng cần phải chịu những mất mát đau thương:tang mẹ lúc 5t,sau đó,ông ngoại tạ thế khi NgT lên 10t.Năm 1440,NgT đỗ Thái học viên và cả 2 cha con cùng làm quan dưới triều nhà Hồ.Về sau,khi nhà Hồ sụp đổ,cha ông bị tóm gọn sang Trung Quốc,ông xin đi theo cùng nhưng đến cửa ải,NgPhi Khanh lại khuyên ông nên quay trở về trả nợ nước,báo thù nhà,và trong cảnh chia lìa đó,cha ông đã làm ra bài thơ”2 chữ nước nhà”đầy cảm động.Về phần ông,vâng lời cha,ông quay trở về đầu quân cho nghĩa quân Lam Sơn,giúp Lê Lợi đánh đuổi giăc Minh,hợp nhất quốc gia.Ông trao cho LLợi bản kế sách đánh đuổi quân Minh mà sử sáh Viet Nam gọi là Bình ngô sách:”hiến mưu trước lớn,không nói tới việc đánh thành mà lại khéo nói tới việc đánh vào lòng người”,ông thuyết phục LLợi dùng nhân nghĩa so với tướng sĩ,dùng công tâm để lấy thành”.Ông đặt ra 3 phương sách:công tâm là thượng sách,vưa công thành vừa công tâm là trung sách,công thành là hạ sách(3phương sách này phù phù hợp với 3 đường lối trị nước là đế đạo,vuơng đạo và bá đạo).

Bình Định Vương LLợi phong cho NgT chưc Tuyên phụng Đại Phu Thừa chỉ học sĩ hàn Lâm Viện.NgT đặt ra nhiều kế sách,chiến lược cho LLợi.Nhờ có sự đóng góp lớn lao của Nguyễn Trãi mà lập nên đc nhiều thắng lợi vẻ vang cho dân tộc.

NgT ko chỉ là 1 nhà quân sự đại tài như tất cả chúng ta biết mà ông đang là nhà văn chính luận kiệt xuất với tác phẩm”bình ngô đại cáo” bất hủ.Tiếc thay,với những tài năng như thế,đáng lẽ,NgT đc vua Lê trọng dụng và giải quyết những hoài bão của mình,nhưng càng về sau,ông ko đc vua Lê trọng dụng nữa.Buồn đau trước cảnh ấy,NgT đã cáo quan về ở ẩn tại Côn Sơn & hình như định mệnh trớ trêu khéo dùa cợt ông lần nữa,gia đình ông bị tru di tam tộc vì tội hại vua_1 nỗi oan lớn của cả niên đại lúc bấy giờ.Thế nhưng,có vẻ trời đất ko mong muốn 1 người tài đức như ông phải chịu 1 chết chóc oan uổng đén vậy,nên đến thời vua Lê Thánh Tông,nỗi oan của ông đc rửa sạch và đc vua tặng câu”Úc Trai lòng sáng tựa sao khuê” .

Nguyễn Trãi ko chỉ là nhà quân sự,nhà văn chính luận mà ông còn nổi tiếng ở nhiều ngành nghề khác nhau,để lại nhiều tác phẩm như:dư địa chí,Lam Sơn thực lục & ông cũng là người trước tiên đặt nền tảng cho nền văn học chữ Nôm nước nhà qua tác phẩm “quân trung từ mệnh tập”,không những thế còn tồn tại tác phẩm”Côn Sơn ca”in trong tập “Ức Trai thi tập”

Qua những tác phẩm sót lại đến nay của NgT,ta thấy thơ văn ông thấm đậm quan niệm nhân nghĩa,yêu nước,thương dân.Tiêu biểu như”quân trung từ mệnh tập” ,là tập văn chiến có sức mạnh của 10 vạn quân.Sức mạnh ấy có đc tùe sự phối hợp tuyệt diệu giữa tue tưởng nhân nghĩa,quan niệm yêu nước và văn nghệ viết văn luận chiến bậc thầy.”Bình ngô đại cáo” là áng văn yêu nước lớn của niên đại,là bản tuyên ngôn về độc lập chủ quyền của dân tộc,bản cáo trạng tội ác kẻ địch,bản hùng ca về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn & đang là sự hoà quyện giữa sức mạnh của quan niệm nhân nghĩa với quan niệm yêu nước.Bài viết thơ văn NgT rất đa dạng,đặc biệt so với ái tình quê hương gia đình.Nét trước tiên là niềm tha thiết với thiên nhiên quê hương.Xuất phát điểm từ những cái nhỏ nhặt,tưởng như ko đâu nhưng lại chứa chan ái tình thương:bè rau muống,lảnh mùng tơi,cây chuối,cây đa…đều trở thành vần điệu trong thơ NgT,tạo thành những rung động tinh tế trong lòng người.Ông nói 1 cách trang trọng mà thật vui tươi,chất phác:”ao cạn vớt bèo cấy muống;trì thanh phát cỏ ương sen”,ông phát xuất hiện 1 vẻ đẹp rất ngạc nhiên:đêm trăng gánh nứoc thì gánh luôn cả trăng đem về;khung trời ko mây,trong suốt 1 màu xanh,ông thấy này là 1 bầu ngọc đông lại;thuyền bè chen nhau gối đầu lên bãi,ông nhìnthành 1 đám tằm lúc nhúc:”tằm ươm lúc nhúc thuyền đầu bãi”.Ông coi thiên nhiên như 1 người ban thân của mình,có lúc,ông như hoà mình vào thiên nhiên đến mức tưởng như dòng suối,cục đá phủ rêu,tán trúc như hoà nhập với ông làm 1.

Kế tiếp là niềm đồng hành tha thiết với bà con quen thuộc ở quê nhà.Thời còn giặc Minh,nhiều năm,ông phải lẩn tránh khắp mọi nơi,xa nhà ,xa quê ,xa bà con quen thuộc với bao nỗi rầu rĩ đêm thu,xa nhà bên ngọn đèn đêm khuya,ông day dứt như trong bài “đêm thu đất khách” ông tâm sự:Đêm khuya,bên ngon đèn leo lét,hồn mộng cứ vẩn vơ mãi nơi đất khách.Thanh minh đến theo tục,con cái phải về thăm mồ mả ông bà,sửa sang bồi đắp,thắp nén hương tưởng nhớ cho đúng đạo làm con cái,vậy mà đã bao năm nay,ông ko về đc,ông chỉ não lòng:”thân mình xa ngàn dặm,mồ mả ông bà ở quê sao ko giẫy cỏ dâng hương;10 năm đã qua,những người ruột thịt, quen thân cũ đã chẳng còn ai;đành mượn tạm chén rượu ép mình uống,ko cho lòng cứ ngày ngày xót xa nỗi nhớ quê”(thanh minh_dịch nghĩa)
Cũng chính vì có tâm hồn yêu thiên nhiên,cuộc đời,nhân loại nên NgT sống 1 đời trong sạch,1 lòng vì dân,vì nước.Khi trở về nông thôn,ông yên lòng & tự hào,ông coi cày cấy là 1 niềm vui:”1 cày 1 cuốc thú nhà quê”.Những người dân lao động chân lấm tay bùn đáng đc tri ân:”ăn lộc,đền ơn kẻ cấy cày”.Cuộc đời NgT giản dị,nghèo mà thanh,ông truyền tụng kiểu dáng,thuộc tính của tùng,chúc ,mai,3 cây ko chịu khuất phục trước gía lạnh của mùa đông,giống như ông,1 người luôn giữ tấm chân tình trong sạch,1 tấm “lòng thơm”.Lòng thơm ấylà lòng yêu nước thương dân,nó suốt đời sôi nổi,nó dự trên chân lí của tư tưỏng nhân nghĩa_1 tư tưỏng cao đẹp xuyên thấm cuộc sống & thơ văn ông.So với NgT,nhân nghĩa chính là trừ bạo,yên dân.

Xem Thêm  Viết trang ASP.NET đầu tiên của bạn - ví dụ trang net asp

Nguyễn Trãi quả là 1 nhân vật vĩ đại trong lịch sử Viet Nam,ông chính là 1 vị người hùng dân tộc,1 nhà tư tưỏng,nhà thơ,nhà văn hoá lớn của nước ta.Tâm hồn & sự nghiệp của ông mãi mãi là tại sao sáng như vua Lê Thánh Tông đã truyền tụng”Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo”.

Thuyết minh về tác giả Nguyễn Trãi – bài 5

“Nghe hồn Nguyễn Trãi phiêu diêu
Tiếng gươm khua, tiếng thơ kêu xé lòng”
(Tố Hữu)

Lấp lánh rọi sáng như một người nổi tiếng Khuê trong tâm hồn, trong con tim “ưu thời ái quốc”, – thâm thuý, sắc bén, đầy biến hoá trong tài mưu lược chính trị – nhẹ nhõm mà thanh lịch, thi vị trong những vần thơ về thiên nhiên, cây cỏ, Nguyễn Trãi đã tạc mình vào vóc dáng dân tộc, tồn tại vĩnh hằng trong con tim mỗi người dân Viêt Nam, trong lịch sử dân tộc.

Lắng mình cùng dòng chảy thời gian, trở về với vùng đất Hải Dương – nơi đã sinh thành, nuôi dưỡng nhân loại tài hoa Đất Việt Nguyễn Trãi, ta mới am hiểu rằng lấp sau mũ quan, áo gấm là một thời thơ dại đầy bão dông. Nguyễn Trãi (1380 – 1442) ra đời và lớn lên tại làng Chi Ngại, là con của Nguyễn Phi Khanh, cháu ngoại tướng công Trần nguyên Đán. Thật may mắn khi nhân loại vốn đã tài hoa, kiệt xuất trời xinh ấy lại được nuôi dưỡng, lớn lên trong một gia đình mà truyền thống yêu nước, văn hoá, văn học đã biến thành một niềm tự hào sâu sắc.Thế nhưng, hạnh phúc vừa cầm nắm trong tay thì cuộc sống giông tố đã ùa tới khiến Nguyễn Trãi chịu nhiều mất mát đau thương. Ông để tang mẹ lúc 5 tuổi rồi lại ông ngoại tạ thế khi vừa tròn 10 tuổi. Vượt mặt những khốn khó, thiếu thốn về trí não, cố gắng học hành, năm 1440, Nguyễn Trãi đỗ Thái học viên và cùng cha ra làm quan dưới triều nhà Hồ. Năm 1407, giặc Minh cướp nước ta, cha ông bị chúng bắt sang Trung Quốc. Gánh nặng hai vai là món nợ non sông và mối thù nhà khôn xiết. Sau khoảng thời gian thoát khỏi sự giam lỏng của giặc Minh, Nguyễn Trãi từ Đông Quan tìm vào Lam Sơn theo Lê Lợi gia nhập khởi nghĩa. Ông đã biến thành cánh tay đắc lực của Lê Lợi, thực hiện “mưu phục tâm công” giúp cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đi đến toàn thắng vang dội. Ông hăm hở gia nhập vào quá trình xây dựng quốc gia. Giặc ngoài đã dẹp yên, tranh chấp nội bộ triều đình phong kiến nổi lên, Nguyễn Trãi bị nghi oan, bắt giam. Sau đó ông được thả ra nhưng không còn được tin dùng như trước. Thời thế ép buộc nhân loại tận trung với nước, tận hiếu với dân phải từ bỏ chốn quan trường về ở ẩn tại Côn Sơn. Năm 1442, Nguyễn Trãi trở về giúp vua Lê Thánh Tông việc nước thì an oán Lệ Chi Viên đổ ập xuống gia đình ông. Đàn gian thần vu cho ông giết vua, khép tội “tru di tam tộc”. Cuộc sống đã đóng sập trước mắt nhân loại tài hoa bạc phận như một sự thật phũ phàng đến nao lòng, là nỗi xót thương nghẹn ngào của bao con dân khó khăn dưới ách cùm trói thiếu đi 1 cánh tay chở che, bảo vệ trước dông tố cuộc sống.

Chào đời từ cát bụi rồi lại trở về với cát bụi hư không. Cuộc sống và sự nghiệp của Nguyễn Trãi tưởng đã bị cuốn phăng khỏi guồng quay của thời gian, chuyến du ngoạn dài của lịch sử nhưng chính bởi hồn thơ văn chất chứa đã cam kết tên tuổi, tạc linh hồn vô hình lên vóc dáng dân tộc, để lại cho đời những tiếng thơ bất hủ, vang dội mà cũng không kém phần cô đọng, tinh tế, mộc mạc như chính những rung động nhẹ nhõm trong con tim Nguyễn Trãi:

“Nhắc đến tên ông là thấy thơ
Như một nguồn thiêng chẳng bến bờ”.
(Tế Hanh)

Nguyễn Trãi – nhà văn chính luận kiệt xuất mọi niên đại. Ông coi thơ là nơi gửi gắm, truyền đạt con mắt sự đời tinh tế để công phá quân giặc; là miền đất ước ao mà ở đó quan niệm nhân nghĩa, yêu nước, thương dân thấm nhuần vào hành động, xuyên suốt, chủ chốt như nguồn năng lượng quy tụ phát sáng kì diệu:

“Trừ độc, trừ tham, trừ bạo ngược
Có nhân, có trí, có anh hùng”
(Quốc âm thi tập)

Trong thơ Nguyễn Trãi, hai tiếng “trung hiếu” và “ưu ái” như một lời nguyền vang vọng, trường tồn với năm tháng: Yêu nước, thương dân – danh là danh tổ quốc – lợi là lợi tổ quốc. Sống để hiến dâng, suốt đời quên mình vì dân vì nước, vì quan niệm “nhân nghĩa”. Rạo rực, hùng hồn, sắc bén, đây “Quân trung từ mệnh tập” – vang dội khí phách, tinh hoa, cội nguồn dân tộc đây, mãi là áng “Thiên cổ hùng văn” ấy là Bình Ngô đại cáo…
“Quân trung từ mệnh tập” tuy chỉ là một tập hợp gồm những thư từ gửi cho tướng giặc và những giao thiệp với triều đình nhà Minh của Nguyễn Trãi…. nhưng nó lại là tập văn chiến tranh “có sức mạnh bằng mười vạn quân” (Phan Huy Chú) với ngòi bút hiểu rõ, sắc sảo, biến hoá, nhất quán của mưu sư “viết thư thảo hịch tài giỏi hơn hết mọi thời” (Lê Quý Đôn). Mỗi bức thư là một khâu, một mắt xích trọng yếu trong cả cuộc luận chiến kéo dài giữa ta và địch, là sự phối hợp tuyệt diệu giữa lý lẽ lúc thâm thuý, ý nhị, lúc biến hoá, sắc sảo đến sần sùi, tài tình với quan niệm yêu nước, thương dân đã tạo cho “sức mạnh của ngòi bút Nguyễn Trãi được nhân lên, cú đánh nào của ông cũng trúng đích” (Nguyễn Huệ Chi). Nếu văn lũ viet nam đã từng gặp mối giao thời lịch sử và văn học sáng rọi giữa Nam Quốc Sơn Hà với thắng lợi trên sông Như Nguyệt của Lý Thường Kiệt hay Hịch tướng sĩ với thắng lợi chốg quân Nguyên lần thứ II thì Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi là sự lặp lại một lần nữa mối giao thời đặc sắc, huy hoàng ấy. Này là sự phối hợp hài hoà giữa xúc cảm chính trị và xúc cảm văn nghệ đến mức kì diệu mà chưa một tác phẩm chính luận nào đạt tới, là áng văn yêu nước sáng chói non sông, niên đại – một “thiên cổ hùng văn” không tiền khoáng hậu. Tác phẩm chính là bản tuyên ngôn độc lập, bản cáo trạng hùng hồn tội ác của kẻ địch, là khúc tráng ca về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Với Nguyễn Trãi, nhân nghĩa phải nối liền với chống quân xâm lược, bảo vệ quê hương, lo cho dân cuộc đời “thái bình, thịnh trị”, “xã tắc từ đây vững bền” ; lòng tự hào dân tộc sâu sắc:

“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”.
(Bình Ngô đại cáo)

Lắng sâu trong Bình Ngô đại cáo là dòng máu lúc bừng lên, sôi sục lòng tự hào dân tộc nhiệt huyết, lúc âm vang, bức xúc, uất hận trào sôi, lúc nghẹn ngào, tấm tức … Nguyễn Trãi luôn ước vọng nhà nước phong kiến sẽ lấy nhân nghĩa để “trị dân”, “khoan dân” cho viễn tượng quê hương quốc gia tươi đẹp xuất hiện tươi sáng, huy hoàng, đặc sắc hơn:
“Bốn phương biển cả thanh bình, ban chiếu duy tân khắp chốn”. Giọng văn chính luận của Nguyễn Trãi đã đoạt tới mức độ văn nghệ mẫu mực từ cách xác nhận đối tượng, mục đích để có giải pháp khéo léo tạo thành cấu tạo sức bén, nhất quán. Với tài năng, đức độ cùng những việc mà Nguyễn Trãi đã làm và hiến dâng cho dân tộc, ông xứng đáng là một nhà đổi mới vĩ đại, nhà quan niệm lớn, một danh nhân văn hoá toàn cầu. Phạm Văn Đồng đã đánh giá: “Đối với Nguyễn Trãi, yêu nước là thươn dân, để cứu nước phải dựa vào dân và cứu nước để cứu dân, đem lại thái bình cho nhân dân.” Quan niệm nhân nghĩa ấy luôn thiết tha, thường trực chuyển thực tâm trạng lo âu, bất an:

“Bui một tấc lòng ưu ái cũ
Chẳng nằm thức dậy nẻo canh ba.”
(Bảo kính cảnh giới – 1)

“Bui một tấc lòng ưu ái cũ
Đêm ngày cuồn cuộn nước triều dâng.”
(Thuật hứng – 5)

Triết lý nhân nghĩa của Nguyễn Trãi tiềm tàng như quặng quý mà ta cần phải khai thác, nhưng khi lộ thiên nó lại càng lấp lánh hơn bởỉ quan niệm, tấm chân tình yêu nước, thương dân sáng ngời.
Rạo rực khí phách một thời của vị người hùng nhưng “Bình Ngô đại cáo” hay “Quân trung từ mệnh tập”…. chỉ là chất thép bao bọc bên ngoài một tâm hồn, một con tim biết đau nỗi đau thời thế, biết yêu, biết sống đẹp, sống vui. Là bậc người hùng với lý tưởng cao thượng nhưng Nguyễn Trãi xót xa và nghẹn ngào chua xót trước cảnh người dân bị tàn hại vô tội. Ông thương khóc cho “dân đen” đang rên xiết dưới gót giày quân giặc. Tình ái thương đồng loại cao thượng, vĩ đại lắm thay là một phần xương máu, tâm can của nhân loại người hùng ấy!

“Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”

Nguyễn Trãi vốn dĩ là nhân loại trung thực, ngay thẳng, yêu lẽ phải và sự công bình nên nỗi chua xót, rầu rĩ, chua chát về thời thế đen bạc, lòng người đổi thay là điều dĩ nhiên:

“ …. Càng một ngày càng ngặt đến xương
…. Ở thế nhiều phen thấy khóc cười
…. Bui một lòng người cực hiểm thay”.

Xã hội càng ngang trái, người người hùng ấy lại càng ngời sáng phẩm chất cứng cỏi, khát khao tự do, thà chết chứ không chịu làm bầy tớ của cường quyền bạo ngược:

“Một tấm long son ngời lửa luyện
Mười năm thanh chức ngọc hồ băng
Ung dung cứ nói điều ta thích
Uốn gối theo đời không thể vâng”.

Trên đây là bài tập làm văn thuyết minh về tác giả Nguyễn Trãi, Baitaplamvan chúc các bạn học tốt!

4.3

/

5

(

21

bầu chọn

)

Viết một bình luận